16 Quần Ngựa, Phường Ngọc Hà, Hà Nội

Robot phẫu thuật ‘một cổng’ điều trị ung thư

Robot phẫu thuật ‘một cổng’ điều trị ung thư Bác sĩ bệnh viện Tâm Anh ứng dụng thiết bị một cổng Single-site trên robot thế hệ mới điều trị ung thư tuyến tiền liệt, nhân đôi hiệu quả. Tâm Anh là bệnh viện đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng thiết bị này trong điều trị ung thư, còn PGS.TS.BS Vũ Lê Chuyên, Giám đốc Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, là chuyên gia Việt Nam đầu tiên thực hiện kỹ thuật robot phẫu thuật “một cổng”. PGS Chuyên cho biết công nghệ “cộng hưởng sức mạnh” của robot phẫu thuật Da Vinci Xi với cổng tích hợp silicon đa kênh điều trị hiệu quả ung thư tuyến tiền liệt, ung thư thận chưa xâm lấn, u thận, phẫu thuật treo cổ tử cung… Thay vì phải rạch 5-6 đường mổ để đưa thiết bị vào cơ thể, công nghệ một cổng cho phép tích hợp toàn bộ camera và các cánh tay robot qua vết rạch duy nhất dài khoảng 2-2,5 cm tại rốn. Hệ thống Laser Targeting trên robot Da Vinci Xi tự động xác định chính xác vị trí đặt cổng Single-site, đồng thời căn chỉnh camera và các cánh tay robot trước phẫu thuật, giúp phẫu thuật viên thao tác chính xác hơn trong không gian hẹp. Nhờ xâm lấn tối thiểu, độ chính xác vượt trội, người bệnh giảm đau, giảm mất máu và có thể xuất viện sau 24 giờ. Thiết bị một cổng Single-site kết hợp với hệ thống định vị Laser Targeting trên robot Da Vinci Xi hỗ trợ bác sĩ phẫu thuật chính xác và an toàn. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Theo PGS Chuyên, ngoài nâng cao hiệu quả điều trị, phẫu thuật robot “một cổng” còn tăng độ an toàn, đặc biệt với bệnh nhân tiểu đường, suy giảm miễn dịch hoặc rối loạn đông máu. Đường rạch nhỏ giúp rút ngắn thời gian đóng vết mổ từ khoảng 30 phút xuống 10 phút, giảm nguy cơ nhiễm trùng, mất máu và truyền máu, giảm rủi ro phản ứng thải ghép, quá tải tuần hoàn hoặc ảnh hưởng chức năng lọc của thận, nhờ đó người bệnh hồi phục sớm hơn. Kỹ thuật này cũng thêm lựa chọn cho bệnh nhân ung thư từng phẫu thuật nhiều lần vùng bụng cần hạn chế đường rạch mới hoặc trường hợp có khối u lớn phải mở đường lấy bệnh phẩm. Phẫu thuật robot một cổng đòi hỏi phẫu thuật viên có trình độ cao. Theo thông tin của Intuitive Surgical (Mỹ), nhà sản xuất robot Da Vinci Xi, bác sĩ cần thực hiện tối thiểu 100 ca phẫu thuật robot Da Vinci trước khi được đào tạo kỹ thuật một cổng. Trong quá trình mổ, bác sĩ phải điều khiển đồng thời 4 cánh tay robot trong không gian hẹp, đảm bảo thao tác chính xác và tránh va chạm. “Nhiều bác sĩ thành thạo mổ bằng robot nhưng rất ít người làm chủ kỹ thuật Single-site”, PGS Chuyên chia sẻ. Bệnh viện Tâm Anh là đơn vị tiên phong tại Việt Nam và số ít trong khu vực Đông Nam Á ứng dụng thành công kỹ thuật Single-site trong điều trị ung thư, bệnh phức tạp. Ảnh: Bệnh viện cung cấp Từ tháng 6, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đã ứng dụng công nghệ này phẫu thuật cho 6 bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt, ung thư thận. Thời gian lấy bệnh phẩm giảm từ khoảng 20 phút xuống 5 phút, thời gian đóng vết mổ từ 30 phút xuống còn khoảng 10 phút. Các ca phẫu thuật không phải truyền máu, không cần đặt thêm trocar ngoài kế hoạch hoặc chuyển sang mổ robot đa cổng. Người bệnh xuất viện sau 1-2 ngày, giảm 2-4 ngày so với phẫu thuật robot thông thường. Là một trong 6 bệnh nhân đầu tiên được thực hiện mổ robot một cổng, ông Hưng, 63 tuổi, có chỉ số kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA) 10-20 ng/mL, gấp 3-4 lần bình thường. Chụp cộng hưởng từ phát hiện khối u gần 3 cm trong tuyến tiền liệt, chưa xâm lấn, được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn T2. PGS Chuyên cho hay cấu trúc u khu trú đồng nghĩa tế bào ung thư vẫn nằm trọn trong tuyến tiền liệt, chưa xâm lấn các cơ quan lân cận hay di căn xa. Đây là điều kiện lý tưởng để ứng dụng kỹ thuật Single-site trên nền tảng robot Da Vinci Xi, vừa đảm bảo loại bỏ khối u ác tính điều trị ung thư triệt để, vừa bảo tồn tối đa chức năng sinh lý nam giới cho bệnh nhân trung niên, đảm bảo chất lượng sống sau phẫu thuật. Khi hệ thống robot Da Vinci Xi được kết nối và khóa chặt cổng silicon vào cơ thể, các cánh tay robot xoay 540 độ cùng camera với độ phóng đại lên đến 10-15 lần hỗ trợ quá trình phẫu thuật. PGS Chuyên điều khiển robot bóc tách toàn bộ tuyến tiền liệt chứa khối u, đồng thời bảo tồn tối đa các bó mạch thần kinh hai bên. Nhờ đó, chức năng tiểu tiện và sinh lý ở nam giới được hạn chế ảnh hưởng, giảm nguy cơ xảy ra các biến chứng thường gặp ở phương pháp phẫu thuật truyền thống. Với khả năng xoay linh hoạt hơn cổ tay người, các cánh tay robot giúp thao tác khâu nối cổ bàng quang với niệu đạo chính xác và kín hơn trong không gian hẹp của vùng chậu, giảm tối đa nguy cơ rò nước tiểu và thúc đẩy quá trình hồi phục nhanh chóng. Sau khi cắt bỏ khối u, toàn bộ bệnh phẩm được đặt trong túi chuyên dụng để cánh tay robot lấy ra ngoài qua chính đường mổ ban đầu.

Nghiên cứu toàn diện nhất về hệ gen người Việt được công bố quốc tế

(Dân trí) – Sau gần 7 năm theo đuổi mục tiêu xây dựng bản đồ gen của người Việt, nhóm khoa học do TS Võ Sỹ Nam và GS Vũ Hà Văn dẫn dắt vừa công bố những kết quả đầu tiên trên Nature Communications. Bài báo mang tên “VN1K is a pangenome-informed multi-omics and phenomics resource for the Vietnamese population“, giới thiệu nguồn dữ liệu gen kèm theo các thông tin nhân khẩu học và sức khỏe đặc trưng với quy mô lớn và toàn diện cho người Việt. Bài được đăng trên Nature Communications – một trong những tạp chí khoa học uy tín hàng đầu thế giới – vào ngày 22/7. Trên cơ sở phân tích mẫu gen của 1.011 người Việt Nam có gốc gác từ 53/63 tỉnh, thành phố (theo địa giới hành chính cũ tại thời điểm lấy mẫu), VN1K ghi nhận hơn 42 triệu biến thể gen, trong đó khoảng 8,5 triệu biến thể chưa từng xuất hiện trong các cơ sở dữ liệu quốc tế phổ biến. Từ nguồn dữ liệu này, nhóm nghiên cứu đã xây dựng thành công VPR (Vietnamese PanGenome Reference) – bộ hệ gen tham chiếu quần thể quy mô lớn đầu tiên của Việt Nam, giúp nâng cao độ chính xác trong phân tích và giải mã các biến thể di truyền. Đây là dấu mốc đáng chú ý khi công trình được phát triển từ dữ liệu trong nước, do các nhà khoa học Việt Nam chủ trì và hướng tới giải quyết bài toán đặc thù của quần thể Việt. Trước đây, dữ liệu về người Việt trong các nghiên cứu di truyền quốc tế rất hạn chế. Phần lớn nghiên cứu trên người Việt thường phải tham chiếu cơ sở dữ liệu được xây dựng chủ yếu từ người gốc Âu. VN1K đã góp phần lấp đầy khoảng trống dữ liệu này, đóng góp quan trọng vào kho tri thức di truyền toàn cầu. Công trình cũng là một trong những bộ dữ liệu gen quy mô lớn hàng đầu ở Đông Nam Á. Khu vực có đến 700 triệu dân này lâu nay thuộc nhóm thiếu dữ liệu gen nhất thế giới. VN1K sẽ bổ sung một mắt xích quan trọng cho nghiên cứu di truyền của khu vực, giúp các nghiên cứu về bệnh tật, đáp ứng thuốc và đặc điểm sinh học của quần thể người Đông Nam Á trở nên chính xác hơn. Không chỉ mang ý nghĩa học thuật, VN1K còn được xem là hạ tầng dữ liệu nền tảng cho nhiều ứng dụng y sinh học, từ di truyền dược lý đến y học dự phòng và cá thể hóa. Những kết quả từ VN1K cũng đã đặt nền móng cho VinGenChip – công nghệ đang được sử dụng trong các thử nghiệm kỹ thuật phục vụ chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ còn thiếu thông tin bằng phương pháp giám định ADN. Công trình vì thế vừa khẳng định năng lực làm chủ công nghệ của các nhà khoa học Việt Nam, vừa tạo nền tảng khoa học phục vụ những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt về chính trị, lịch sử và nhân văn của đất nước. Hai thành viên chính trong nhóm tác giả liên hệ của công bố là TS Võ Sỹ Nam và GS Vũ Hà Văn, hiện cùng công tác tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn, Trường Đại học VinUni, trong đó GS Vũ Hà Văn đồng thời là giáo sư của Đại học Hong Kong. Từ khoảng trống của người Việt trên bản đồ gen thế giới… VN1K bắt nguồn từ dự án “Giải mã 1.000 hệ gen người Việt” do GS Vũ Hà Văn khởi xướng cuối năm 2018 tại Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn Vingroup (nay thuộc trường Đại học VinUni). Thời điểm ấy, mục tiêu này được xem là khá tham vọng khi dấu ấn của người Việt trên bản đồ gen thế giới còn rất mờ nhạt. Cũng trong giai đoạn đó, TS Võ Sỹ Nam đang là nhà nghiên cứu tin sinh học tại ĐH Chicago (Hoa Kỳ) và tập trung vào phân tích dữ liệu hệ gen người. Nhiều năm làm việc với các cơ sở dữ liệu gen quốc tế giúp ông nhận ra sự thiếu vắng của dữ liệu người Việt trong các nghiên cứu quy mô lớn và những hệ lụy mà điều này có thể gây ra đối với việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. TS Nam ví điều đó như việc may đo áo quần. Một hãng thời trang toàn cầu có số đo của nhiều dân tộc để thiết kế trang phục nhưng lại thiếu thông tin về vóc dáng người Việt. Khi ấy, những bộ quần áo của họ khó có thể phù hợp với chúng ta. Trong các ứng dụng y tế, sự không vừa vặn này không chỉ dừng lại ở cảm giác thiếu thoải mái. Chẳng hạn, một số loại thuốc với liều lượng hoặc hoạt chất được xây dựng dựa trên thể trạng người Âu – Mỹ có thể kém hiệu quả, thậm chí gây phản ứng bất lợi đối với người Việt. Thực tế này đã đặt ra nhiều câu hỏi về đặc điểm gen của người Việt mà TS Võ Sỹ Nam muốn tìm lời giải. Năm 2019, ông Nam được GS Vũ Hà Văn – khi đó là Giám đốc Khoa học của Viện Nghiên cứu Dữ liệu lớn – mời tham gia dự án giải mã 1.000 hệ gen người Việt. Bị thuyết phục bởi tầm nhìn của GS Văn, ông quyết định trở về nước. “Anh Văn đã từng nói rằng: Có những bài toán nếu không phải người Việt làm thì ai sẽ làm? Quả vậy, các nhà nghiên cứu ở Mỹ hay châu Âu sẽ không có động lực rõ

Phòng chống dịch bệnh mùa hè và mùa mưa bão 2026 tại các tỉnh Bắc Trung Bộ

Mùa hè và mùa mưa bão năm 2026 đang tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nhiều dịch bệnh truyền nhiễm gia tăng tại Việt Nam. Trước diễn biến phức tạp của sốt xuất huyết, tay chân miệng, sởi, thủy đậu, não mô cầu và các bệnh hô hấp, nhiều địa phương khu vực Bắc Trung Bộ đã đồng loạt triển khai các biện pháp tăng cường phòng chống dịch. Các chuyên gia khuyến cáo người dân cần chủ động vệ sinh môi trường, loại bỏ nơi sinh sản của muỗi, bảo đảm an toàn thực phẩm, sử dụng nguồn nước sạch và tiêm chủng đầy đủ để giảm nguy cơ mắc bệnh. Bước vào mùa hè năm 2026, khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ đang đối mặt với nhiều yếu tố làm gia tăng nguy cơ bùng phát dịch bệnh. Theo các cơ quan chuyên môn, thời tiết nắng nóng, độ ẩm cao xen kẽ những đợt mưa lớn bất thường tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn, virus và các véc-tơ truyền bệnh như muỗi phát triển mạnh. Đồng thời, kỳ nghỉ hè, các hoạt động du lịch và sự gia tăng di chuyển của người dân cũng làm tăng nguy cơ lây lan các bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng. Theo hệ thống giám sát dịch bệnh, nhiều bệnh truyền nhiễm đang có xu hướng gia tăng tại Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026. Tay chân miệng ghi nhận số mắc tăng mạnh tại nhiều địa phương; sốt xuất huyết vượt mốc 50.000 ca mắc trên toàn quốc chỉ trong 5 tháng đầu năm, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước. Các chuyên gia dịch tễ nhận định đây là tín hiệu cho thấy mùa dịch năm nay có thể đến sớm và kéo dài hơn so với thông lệ. Không chỉ sốt xuất huyết và tay chân miệng, nhiều bệnh truyền nhiễm khác cũng đang lưu hành và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Tại Hà Nội, số ca mắc sởi tiếp tục gia tăng, với 279 trường hợp được ghi nhận từ đầu năm 2026. Đối với Covid-19, dù chưa ghi nhận nhiều ca bệnh nặng hay tử vong, cả nước vẫn ghi nhận 302 ca mắc mới tính đến cuối tháng 4/2026, cao gấp 4,4 lần so với cùng kỳ năm trước. Bệnh cúm có xu hướng giảm so với năm 2025 nhưng vẫn ghi nhận số lượng lớn ca mắc, trong đó có những trường hợp diễn tiến nặng. Tính từ ngày 14/12/2025 đến cuối tháng 4/2026, cả nước ghi nhận 52.865 trường hợp mắc cúm. Đáng chú ý, viêm màng não do não mô cầu tiếp tục là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với khả năng diễn tiến nhanh và tỷ lệ tử vong cao. Từ đầu năm 2026 đến cuối tháng 4/2026, cả nước ghi nhận 26 ca mắc và 4 trường hợp tử vong, tăng 10 ca mắc so với cùng kỳ năm 2025. Trước nguy cơ dịch bệnh gia tăng trong mùa hè và mùa mưa bão, thực hiện chỉ đạo của ngành y tế và văn bản số 3994/SYT ngày 5/5/2026 của Sở Y tế về tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, nhiều địa phương trên cả nước đã khẩn trương triển khai đồng bộ các giải pháp ứng phó, đặc biệt tại địa phương khu vực phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Các kế hoạch ứng phó thiên tai, dịch bệnh được rà soát, cập nhật; nguồn lực về thuốc, hóa chất, trang thiết bị và nhân lực được củng cố; hệ thống giám sát dịch tễ được tăng cường nhằm phát hiện sớm các ổ dịch và xử lý kịp thời. Đồng thời, các địa phương cũng đẩy mạnh công tác truyền thông, hướng dẫn người dân vệ sinh môi trường, xử lý nguồn nước và chủ động thực hiện các biện pháp phòng bệnh. Nhiều địa phương trên cả nước đang khẩn trương triển khai các giải pháp phòng, chống dịch bệnh mùa hè và mùa mưa bão năm 2026 trong bối cảnh số ca mắc một số bệnh truyền nhiễm có xu hướng gia tăng. Hình ảnh minh họa: Báo Hà Nội Mới. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là nguy cơ dịch bệnh hiện nay không chỉ đến từ các tác nhân gây bệnh mà còn đến từ sự thay đổi của môi trường sống. Bác sĩ Nguyễn Văn Mác Toàn – Quản lý Y khoa, Hệ thống Trung tâm Tiêm chủng VNVC cho rằng biến đổi khí hậu đang làm thay đổi toàn bộ bản đồ dịch tễ học truyền thống. Nhiệt độ trung bình tăng, lượng mưa phân bố thất thường và các đợt mưa lớn xen kẽ nắng nóng kéo dài do biến đổi khí hậu và hiện tượng El Nino, tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi truyền bệnh sinh sản quanh năm thay vì chỉ tập trung vào mùa mưa như trước. Đây là một trong những nguyên nhân khiến sốt xuất huyết xuất hiện sớm hơn và có xu hướng kéo dài hơn trong những năm gần đây. Một vấn đề khác ít được người dân chú ý là sự gia tăng nguy cơ dịch bệnh sau các đợt mưa lớn và ngập úng. Nhiều nghiên cứu dịch tễ cho thấy nguy cơ bùng phát bệnh không chỉ xuất hiện trong thời gian mưa bão mà thường tăng mạnh sau khi nước rút. Nguồn nước bị ô nhiễm, thực phẩm bảo quản không đúng cách, rác thải tồn đọng và các vật chứa nước phát sinh sau mưa tạo điều kiện thuận lợi cho cả bệnh đường tiêu hóa lẫn bệnh do muỗi truyền. Chính vì vậy, nguyên tắc “nước rút đến đâu, vệ sinh đến đó” đang được ngành y tế nhấn mạnh trong công tác phòng dịch năm nay. Bác sĩ Toàn cũng cảnh báo rằng mùa hè hiện nay không còn đơn thuần là mùa của sốt

7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần

Nhận biết được các dấu hiệu báo trước đột quỵ và can thiệp y tế kịp thời là điều cần thiết để giảm thiểu các di chứng nguy hiểm. Dưới đây là 7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần mà bạn cần biết để kịp thời thực hiện các biện pháp giúp bảo vệ chính mình và người thân. 1. 7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần không nên bỏ qua 1.1. Đau đầu dữ dội Đau đầu là dấu hiệu của rất nhiều vấn đề sức khỏe khác nhau. Tuy nhiên, nếu cơn đau đầu đến đột ngột, đau dữ dội mà không rõ nguyên nhân thì đây có thể là 1 trong 7 dấu hiệu cảnh báo sớm của đột quỵ. Vùng đau đầu ở bệnh nhân đột quỵ có xu hướng lan rộng và thời gian của cơn đau thường khá dài. 1.2. Thị lực bị giảm sút Người bị đột quỵ thường gặp phải vấn đề về thị lực vào khoảng thời gian trước khi cơn đột quỵ xảy ra. Vì thế, đây cũng được xem là 1 trong 7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần. Vấn đề về thị lực ở bệnh nhân đột quỵ xuất phát từ tình trạng não không được cung cấp đủ máu. Điều này gây nên các bất thường như: – Mắt nhìn mờ hoặc không nhìn được. – Tầm nhìn gần hoặc nhìn xa kém hơn bình thường. – Tầm nhìn có sự xuất hiện của bóng đen hoặc điểm mù. 1.3. Chóng mặt và mất thăng bằng 1 trong 7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần mà bạn cần ghi nhớ là tình trạng mất thăng bằng và chóng mặt. Đây là kết quả của sự gián đoạn lưu thông máu ở hệ thần kinh trung ương. Người bị đột quỵ thường có các dấu hiệu về mất thăng bằng như: – Quay cuồng, chóng mặt. – Đứng khó giữ thăng bằng như bình thường, đi lại khó khăn. – Cảm giác buồn nôn hoặc muốn ngã. 1.4. Tê yếu các chi Trước khi xuất hiện cơn đột quỵ, người bệnh cũng rất dễ bị tê hoặc yếu một bên cơ thể. Dấu hiệu này là do não bị thiếu oxy và máu. Ở dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra này, người bệnh sẽ có biểu hiện: – Một bên cơ thể, thường gặp nhất là ở chân, tay, mặt có cảm giác tê, yếu, khó vận động. – Khó khăn khi cử động hoặc nâng vật nặng. – Cảm giác như kim châm hoặc mất cảm giác. 1.5. Khó nói hoặc khó hiểu lời nói của người khác Đột quỵ có thể ảnh hưởng đến khu vực não điều khiển ngôn ngữ nên người bệnh bỗng nhiên nói khó, khó hiểu được lời nói của người khác. Cụ thể, người bệnh sẽ gặp tình trạng: – Nói lắp, khó phát âm hoặc mất khả năng nói. – Khó hoặc không hiểu được lời nói của người khác. – Lẫn lộn và không nhớ được từ ngữ để diễn đạt. 1.6. Mất trí nhớ tạm thời Mất trí nhớ tạm thời có thể nằm trong danh sách 7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần vì lưu lượng máu đi đến các phần chịu trách nhiệm về trí nhớ của não bộ bị giảm sút. Điều này gây nên các tình trạng: – Quên các sự kiện có tính chất gần hoặc các thông tin quan trọng. – Khó khăn trong việc nhớ lại tên người quen hoặc địa điểm. – Cảm giác lẫn lộn và không chắc chắn về thời gian và địa điểm. 1.7. Mệt mỏi, thiếu sức sống Cảm giác mệt mỏi và thiếu sức sống kéo dài có thể là dấu hiệu cảnh báo của đột quỵ do não không nhận đủ oxy và dưỡng chất. Khi đó, người bệnh sẽ gặp tình trạng: – Mệt mỏi triền miên mà không thể giải thích lý do. – Da nhợt nhạt. – Thiếu năng lượng và không có động lực làm việc. – Thường xuyên buồn ngủ, khả năng tập trung kém. 2. Cần làm gì khi có các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ? Dù gặp phải bất cứ biểu hiện nào trong 7 dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sắp xảy ra trước một tuần kể trên, người bệnh đều đến ngay cơ sở y tế để tiến hành những kiểm tra cần thiết. Cụ thể, những việc người có dấu hiệu cảnh báo đột quỵ sớm cần làm là: – Gọi cấp cứu 115 ngay lập tức Thời gian là yếu tố quyết định đối với hiệu quả điều trị đột quỵ. Mỗi phút trôi qua và bỏ lỡ thời gian vàng đột quỵ là số lượng tế bào não chết đi tăng lên, tổn thương càng khó hồi phục. – Đặt người bệnh nằm nghiêng Hãy đặt người bệnh trong tư thế nằm nghiêng cao đầu 30 – 45 độ để đường thở được thông thoáng và tránh nguy cơ bị nghẹt thở. – Giữ người bệnh ổn định Giữ cho người bệnh được nằm trong không gian yên tĩnh và nếu người bệnh bị ngã thì đừng cố di chuyển họ. Cho bệnh nhân mặc quần áo thoáng mát, rộng rãi hoặc nới lỏng quần áo của họ. Trường hợp người bệnh bị co giật, cần dùng chiếc đũa bọc giẻ đặt ngang miệng để tránh cắn vào lưỡi. – Quan sát để ghi nhớ đầy đủ triệu chứng Ghi lại thời gian bắt đầu xuất hiện các triệu chứng và bất kỳ thay đổi nào của người bệnh. Hãy cung cấp thông tin này cho nhân viên y tế thực hiện cấp cứu khi họ tới nơi. – Không cho người bệnh ăn uống Không cho người bệnh ăn uống để tránh tình trạng hít sặc hoặc ngạt thở.

WHO thử nghiệm phương pháp điều trị mới, ứng phó dịch Ebola

TMO – Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết các cuộc thử nghiệm đối với hai phương pháp điều trị mới nhằm chống lại đợt bùng phát dịch Ebola khiến nhiều trường hợp tử vong tại CHDC Congo dự kiến sẽ bắt đầu vào tuần tới. Cộng hòa Dân chủ Congo (CHDC Congo) vừa báo cáo có 1.118 trường hợp nhiễm Ebola, bao gồm 291 trường hợp tử vong, Bản cập nhật do Chính phủ nước này công bố cho thấy có 122 người đã hồi phục, trong khi 408 bệnh nhân nhiễm bệnh Ebola vẫn đang được điều trị. Tỷ lệ tử vong là 26%. Công tác giám sát dịch tễ vẫn đang được tiến hành, dẫn đến việc xác định 138 trường hợp nghi nhiễm. Tỷ lệ truy vết tiếp xúc đạt 77,1%. Theo WHO, công tác ứng phó dịch Ebola đã có những tiến bộ rõ rệt trong những tuần gần đây, nhưng vẫn bị hạn chế bởi việc truy vết tiếp xúc chưa đầy đủ, năng lực điều trị và cách ly còn hạn chế, tình trạng bất ổn và khả năng tiếp cận nhân đạo yếu kém ở các tỉnh phía Đông bị ảnh hưởng. Năng lực điều trị đã tăng từ dưới 10 giường bệnh lên hơn 500 giường tại 19 trung tâm y tế, trong khi năng lực xét nghiệm đã tăng từ khoảng 30 xét nghiệm mỗi ngày tại phòng thí nghiệm trung tâm ở Kinshasa lên hơn 2.000 xét nghiệm mỗi ngày tại 9 phòng thí nghiệm ở 3 tỉnh. Theo WHO, công tác chuẩn bị cho cuộc thử nghiệm 2 phương pháp điều trị hiện đã hoàn tất và chuẩn bị bắt đầu tại nước này. Cuộc thử nghiệm sẽ đánh giá liệu kháng thể đơn dòng MBP134 và thuốc kháng virus remdesivir có thể giúp giảm tỷ lệ tử vong ở các bệnh nhân nhiễm chủng Bundibugyo hay không, khi được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp với nhau. Các thử nghiệm sẽ được triển khai tại một bệnh viện ở tỉnh Ituri, thuộc vùng đông bắc CHDC Congo, nơi ghi nhận phần lớn các ca bệnh hiện nay. Số lượng bệnh nhân tham gia sẽ phụ thuộc vào mức độ hiệu quả ban đầu của các phương pháp điều trị. Dự kiến sẽ có từ 500 đến 1.000 người tham gia nghiên cứu. WHO và các đối tác đang phối hợp chặt chẽ với các cộng đồng bị ảnh hưởng để cung cấp thông tin và khuyến khích họ tham gia quá trình nghiên cứu, bảo đảm người dân sẽ được tiếp cận các phương pháp điều trị nếu chúng được chứng minh là an toàn.   Nguồn: https://thiennhienmoitruong.vn/who-thu-nghiem-phuong-phap-dieu-tri-moi-ung-pho-dich-ebola.html

Vaccine mRNA mở hy vọng mới cho ung thư khó trị

Các vaccine ung thư cá thể hóa dùng công nghệ mRNA đang cho thấy hiệu quả kéo dài ở ung thư hắc tố và tín hiệu khả quan ban đầu với ung thư tụy, ung thư não. Công nghệ từng giúp tạo ra vaccine Covid-19 trong thời gian kỷ lục đang tiếp tục mở rộng sang điều trị ung thư. Các liệu pháp dựa trên mRNA đang cho kết quả kéo dài ở ung thư hắc tố, đồng thời cho tín hiệu ban đầu ở ung thư tụy và ung thư não – những bệnh trước đây được xem là rất khó để hệ miễn dịch nhận diện và tấn công. Những bước tiến này xuất hiện trong bối cảnh vaccine ung thư được xem là một trong các mảng nghiên cứu tăng trưởng nhanh của ngành ung thư học. Tại hội nghị của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Mỹ ở Chicago trong tháng này, hơn 130 nghiên cứu liên quan đến hướng tiếp cận này đã được trình bày. Những nghiên cứu tiềm năng Đáng chú ý là chương trình của Moderna và Merck. Hai công ty đang thử nghiệm liệu pháp kết hợp một thuốc miễn dịch mạnh với vaccine ung thư mRNA cá thể hóa. Kết quả cho thấy liệu pháp này giúp kiểm soát ung thư hắc tố trong 5 năm ở một số bệnh nhân – một mốc quan trọng trong nỗ lực tạo ra vaccine được thiết kế riêng để huấn luyện hệ miễn dịch chống lại khối u. Moderna và Merck hiện thử nghiệm các liệu pháp dựa trên mRNA trong 9 nghiên cứu quy mô lớn và vừa, gồm ung thư phổi, thận, bàng quang và tụy. Hai công ty cũng có thể công bố kết quả sớm từ thử nghiệm xác nhận quy mô lớn ở ung thư hắc tố trong năm nay. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu ban đầu tại các trường đại học và trung tâm y khoa đã được các hãng dược lớn như Roche và BioNTech phát triển thành chương trình nghiên cứu sâu hơn. Hãng nghiên cứu thị trường Vision Research Reports dự báo thị trường vaccine ung thư cá thể hóa, chủ yếu được thúc đẩy bởi công nghệ mRNA, có thể đạt 8,5 tỷ USD mỗi năm vào năm 2034. Với bệnh truyền nhiễm, vaccine có thể dạy hệ miễn dịch nhận diện và tấn công virus, từ đó tạo bảo vệ lâu dài. Theo ông Eliav Barr, Giám đốc Y khoa của Merck, nguyên lý này hiện có thể được áp dụng cho ung thư. Đây là một bước tiến lớn. Từ phát hiện ban đầu đến hướng đột phá Khoảng 10 năm trước, bác sĩ Vinod Balachandran tại Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering là một trong những nhà khoa học sớm nhận thấy mRNA có thể được dùng để điều trị cả những loại ung thư nguy hiểm nhất. Ông chú ý đến một hiện tượng hiếm gặp: một số bệnh nhân vẫn sống sót sau ung thư tụy, căn bệnh từng được cho là gần như “vô hình” trước hệ miễn dịch. Các nghiên cứu sau đó cho thấy ở những bệnh nhân này, hệ miễn dịch có thể nhận diện và tấn công khối u. Câu hỏi đặt ra là làm sao biến hiện tượng hiếm này thành điều phổ biến hơn. Balachandran cho rằng mRNA, với ưu điểm có thể được thiết kế nhanh, có thể dùng để tạo vaccine riêng cho từng bệnh nhân. Vaccine này dựa trên các đột biến chỉ có trong khối u của người bệnh sau phẫu thuật. Tháng 12/2019, một thử nghiệm giai đoạn 1 bắt đầu trên 16 bệnh nhân. Phác đồ gồm hóa trị, thuốc miễn dịch Tecentriq của Roche và vaccine mRNA cá thể hóa của BioNTech. Vaccine này được thiết kế để nhắm vào các protein đột biến trong khối u của từng người. Tại hội nghị của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Mỹ hồi tháng 4, Balachandran cho biết trong 8 bệnh nhân ung thư tụy có đáp ứng miễn dịch với vaccine, 7 người vẫn còn sống sau thời gian theo dõi lên đến 6 năm. Một thử nghiệm giai đoạn 2 trên 260 bệnh nhân toàn cầu đang được tiến hành để kiểm chứng kết quả này. “Nếu mRNA thật sự là công nghệ cuối cùng tạo được đáp ứng miễn dịch có ý nghĩa lâm sàng, đó sẽ là một đột phá”, bác sĩ Robert Vonderheide, Giám đốc Trung tâm Ung thư Abramson thuộc Penn Medicine và Chủ tịch sắp tới của Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Mỹ, nói. Vai trò của mRNA Bác sĩ Sayour ví mRNA như “phần mềm” của cơ thể, có thể được lập trình lại để làm nhiều việc, chẳng hạn tạo ra protein giúp hệ miễn dịch học cách tấn công tác nhân gây bệnh hoặc tế bào ung thư. Một hướng nghiên cứu khác đang được phát triển tại Mount Sinai. Tại đây, Brian Brown, Giám đốc Viện Genomics Icahn, phát triển phương pháp thiết kế các hạt nano lipid, những “bong bóng chất béo” dùng để đưa mRNA vào tế bào, nhằm kiểm soát chúng đi đến vị trí nào trong cơ thể. Một nghiên cứu đăng trên Nature Biotechnology hồi tháng 4 cho thấy mRNA có thể được khuếch đại hoặc “tắt bớt” để tăng đáp ứng miễn dịch hoặc giảm phản ứng có hại. Điều này có thể giúp tạo ra các liệu pháp ung thư mạnh hơn, hoặc mở ra cách điều trị mới cho bệnh tự miễn. Sayour cũng thiết kế một vaccine dùng nhiều cụm hạt nano lipid, thay vì một hạt đơn như vaccine Covid-19. Vaccine này được tiêm vào tĩnh mạch với mục tiêu kích hoạt nhanh hệ miễn dịch để chống lại u nguyên bào thần kinh đệm, một dạng ung thư não phát triển rất nhanh, có tỷ lệ sống sau 5 năm dưới 7%. Ông thừa nhận

Ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh y khoa tại Việt Nam

Dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) đang tạo ra những đột phá rộng khắp trên mọi lĩnh vực. Ứng dụng AI và khai thác dữ liệu y tế trong hỗ trợ chẩn đoán bệnh và xây dựng nền y tế thông minh đã trở thành vấn đề cốt lõi trong lộ trình phát triển y tế của mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Bài viết trình bày khái quát về ứng dụng AI trong chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) y khoa và một số thành tựu bước đầu tại Việt Nam. Mở đầu Hình ảnh y khoa được tạo ra từ các kỹ thuật tạo ảnh bên trong cơ thể người (bao gồm cả các mô sinh học), nhằm hỗ trợ phân tích lâm sàng hoặc can thiệp y tế. Hiểu một cách đơn giản, hình ảnh y khoa là các hình ảnh sinh học được tạo ra với sự hỗ trợ của các công nghệ hình ảnh như X-quang, cắt lớp vi tính (CT), cộng hưởng từ (MRI), siêu âm (Ultrasound), nội soi (Endoscopy), ảnh nhiệt  (Thermography), hay các hình ảnh y học hạt nhân như chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và chụp cắt lớp vi tính phát xạ photon đơn (SPECT). Hình ảnh X-quang đầu tiên trong lịch sử y học thế giới được chụp năm 1895 bởi nhà vật lý học người Đức Wilhelm Röntgen, người sau đó được trao giải Nobel Vật lý năm 1901. Kể từ đó, hình ảnh X-quang nhanh chóng được ứng dụng trong y học, đặc biệt trong chiến tranh để tìm các cấu trúc xương bị vỡ hoặc các mảnh đạn còn sót lại bên trong cơ thể. Sự phát triển của công nghệ dẫn đến việc ra đời một loạt các kỹ thuật hình ảnh mới, hình thành nên y học hiện đại như ngày nay. Công nghệ hỗ trợ CĐHA y tế và vai trò của AI Trong y khoa, các hệ thống hỗ trợ phát hiện (computer-aided detection – CADe) và hỗ trợ chẩn đoán (computer-aided diagnosis – CADx) được thiết kế để giúp bác sĩ đưa ra quyết định nhanh và chính xác hơn [1, 2]. Cụ thể, các hệ thống này cho phép phân tích và đánh giá các bất thường từ dữ liệu y khoa trong thời gian ngắn. Chúng có thể giúp cải thiện chất lượng hình ảnh y khoa, làm nổi bật các cấu trúc bất thường bên trong cơ thể và thực hiện đo đạc các chỉ số lâm sàng [3]. Các hệ thống CADe/x được xây dựng dựa trên các công nghệ lõi gồm xử lý hình ảnh, thị giác máy tính, và đặc biệt là AI. Trong 5 năm trở lại đây, sự bùng nổ của dữ liệu lớn và năng lực tính toán đã giúp cho các mô hình AI đạt được những bước tiến vượt bậc. Các đột phá trong nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng về AI trong y tế liên tiếp được công bố và đưa vào triển khai thực tế. Nói một cách vắn tắt, các mô hình AI có thể tham gia hỗ trợ bác sĩ trong toàn bộ quy trình khám chữa bệnh lâm sàng dựa trên hình ảnh y tế. AI cho phép tạo ra các hình ảnh y khoa nhanh hơn, chất lượng hơn với giá thành rẻ hơn. Việc phân tích, chẩn đoán bệnh và tự động xuất báo cáo… cũng đều có thể đảm nhiệm bởi các thuật toán AI. Trong các tác vụ trên, AI được đã được ứng dụng rộng rãi nhất nhằm phục vụ chẩn đoán bệnh dựa trên hình ảnh [4, 5], đặc biệt là phát hiện sớm các bệnh lý liên quan đến ung thư [6, 7]. Năng lực của một hệ thống AI trong CĐHA y tế có thể chia làm 3 mức độ: (1) Detection: phát hiện các bất thường tiềm tàng từ hình ảnh, phân loại giữa các hình ảnh bệnh nhân mắc bệnh và bệnh nhân không mắc bệnh. Chức năng này của AI giúp giải quyết các bài toán sàng lọc diện rộng hoặc tối ưu việc phân luồng bệnh nhân theo tính ưu tiên. (2) Characterization: đặc tả các tính chất của tổn thương, tiến hành khoanh vùng, phân loại mức độ nguy hiểm theo các tiêu chuẩn y khoa. Ví dụ phân loại mức độ ung thư hoá của một tổn thương. (3) Monitoring: giám sát và đánh giá sự tiến triển của các tổn thương trên hình ảnh. Theo dõi và đánh giá theo thời gian thực các tình huống khẩn cấp nguy hiểm tới tính mạng của người bệnh. Sự thiếu hụt nguồn lực y tế so với nhu cầu là một thực tế trên toàn thế giới hiện nay. Theo thống kê, tại Nhật Bản chỉ có 36 bác sĩ CĐHA/triệu dân. Cả Liberia chỉ có 2 bác sĩ CĐHA và 14 quốc gia tại châu Phi không có bác sĩ CĐHA. Ngay cả đối với những quốc gia phát triển nhất, sự thiếu hụt nguồn nhân lực cũng là một vấn đề nhức nhối. Tại Anh, ước tính có hơn 300.000 hình ảnh X-quang phải chờ đến hơn 30 ngày trước khi được phân tích [8] tại một thời điểm bất kỳ trong năm. AI được coi là xu hướng tất yếu và là công cụ mạnh nhất giúp bù đắp những thiếu hụt này. Một loạt các công cụ AI mới đã được phát triển và ứng dụng trong phân tích và chẩn đoán nhiều phương thức hình ảnh khác nhau như X-quang phổi, X-quang vú, CT/MRI sọ não. Tại Mỹ, một số phần mềm AI đã được Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cấp giấy phép hoạt động. Chẳng hạn, phần mềm chẩn đoán đột quỵ não do thiếu máu cục bộ cấp tính dựa trên phân tích hình ảnh CT

Ứng dụng AI trong y tế: Xu hướng chăm sóc sức khỏe hiện đại

Ứng dụng AI trong y tế đang cách mạng hóa cách chúng ta chăm sóc sức khỏe, từ chẩn đoán bệnh đến quản lý bệnh viện. Trí tuệ nhân tạo trong y tế không chỉ nâng cao hiệu quả mà còn mở ra cơ hội cá nhân hóa điều trị và tối ưu hóa quy trình. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của ứng dụng AI trong y tế, những lợi ích nổi bật, thách thức và tiềm năng mà công nghệ này mang lại, cùng với hành trình đào tạo chuyên gia y tế tương lai tại trường Đại học VinUni. 1. Tổng quan về AI trong lĩnh vực y tế Ứng dụng AI trong y tế đã trở thành động lực thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành chăm sóc sức khỏe. Để hiểu rõ hơn, hãy bắt đầu từ khái niệm cơ bản và các công nghệ cốt lõi. 1.1. AI là gì? Trí tuệ nhân tạo (AI) là lĩnh vực công nghệ mô phỏng trí thông minh của con người thông qua máy tính, bao gồm học máy (machine learning), xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và thị giác máy tính. Trong y tế, AI được ứng dụng để phân tích dữ liệu lớn, dự đoán bệnh lý và hỗ trợ ra quyết định lâm sàng. Ứng dụng AI trong y tế giúp xử lý thông tin nhanh chóng, chính xác hơn so với phương pháp truyền thống. 1.2. Các công nghệ AI cốt lõi được ứng dụng trong y tế Trong bối cảnh y tế hiện đại đang đối mặt với khối lượng dữ liệu khổng lồ từ hồ sơ bệnh án điện tử, hình ảnh chẩn đoán và kết quả xét nghiệm, trí tuệ nhân tạo nổi lên như một công cụ đột phá, giúp chuyển đổi từ cách tiếp cận truyền thống sang mô hình dự đoán, cá nhân hóa và chính xác cao. Các công nghệ AI cốt lõi không chỉ hỗ trợ bác sĩ giảm thiểu sai sót mà còn tối ưu hóa quy trình chăm sóc, từ phát hiện sớm bệnh lý đến lập kế hoạch điều trị hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho cả bệnh nhân và hệ thống y tế toàn cầu. Một số công nghệ nổi bật bao gồm: Học máy (Machine Learning): Phân tích dữ liệu bệnh nhân để dự đoán nguy cơ bệnh. Thị giác máy tính: Hỗ trợ đọc hình ảnh y khoa như X-quang, MRI. Xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP): Phân tích hồ sơ bệnh án hoặc hỗ trợ chatbot tư vấn sức khỏe. Robot học: Ứng dụng trong phẫu thuật chính xác hoặc chăm sóc bệnh nhân. Những công nghệ này tạo nền tảng cho ứng dụng AI trong y tế, giúp tối ưu hóa từ chẩn đoán đến điều trị. 1.3. Vai trò của AI trong việc thúc đẩy chuyển đổi số ngành y tế AI là động lực chính của chuyển đổi số trong y tế, từ việc số hóa hồ sơ bệnh án đến tự động hóa quy trình quản lý bệnh viện. Ứng dụng AI trong y tế giúp giảm thiểu sai sót, tối ưu hóa tài nguyên và nâng cao trải nghiệm bệnh nhân. 2. Các ứng dụng thực tiễn của AI trong chăm sóc sức khỏe Ứng dụng AI trong y tế mang lại nhiều lợi ích thực tiễn, từ hỗ trợ bác sĩ đến nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân. 2.1. Hỗ trợ chẩn đoán hình ảnh và phát hiện sớm bệnh lý AI vượt trội trong việc phân tích hình ảnh y khoa, giúp phát hiện sớm các bệnh như ung thư phổi và bệnh tim. Ví dụ, các thuật toán học sâu có thể nhận diện bất thường trên ảnh X-quang với độ chính xác ngang bác sĩ chuyên khoa. Trí tuệ nhân tạo trong y học giúp giảm thời gian chẩn đoán, đặc biệt ở các khu vực thiếu chuyên gia. 2.2. Cá nhân hóa phác đồ điều trị và ứng dụng trong phẫu thuật chính xác AI phân tích dữ liệu di truyền và lịch sử bệnh án để đề xuất phác đồ điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân. Trong phẫu thuật, các hệ thống robot AI như da Vinci Surgical System hỗ trợ bác sĩ thực hiện các ca mổ phức tạp với độ chính xác cao, giảm nguy cơ biến chứng. Ứng dụng AI trong y tế ở lĩnh vực này đang định hình lại cách điều trị cá nhân hóa. 2.3. Theo dõi sức khỏe bệnh nhân từ xa và quản lý bệnh mãn tính Các thiết bị đeo thông minh tích hợp AI theo dõi nhịp tim, đường huyết hoặc giấc ngủ, giúp bác sĩ giám sát bệnh nhân từ xa. Với bệnh mãn tính như tiểu đường, AI dự đoán biến chứng và gợi ý thay đổi lối sống. Trí tuệ nhân tạo trong y tế mang lại sự tiện lợi và giảm áp lực cho hệ thống y tế. 2.4. Tối ưu hóa quy trình quản lý, vận hành tại các cơ sở y tế AI hỗ trợ tự động hóa các tác vụ như xếp lịch khám, quản lý hồ sơ bệnh nhân và tối ưu hóa chuỗi cung ứng thuốc. Ví dụ, các bệnh viện sử dụng AI để dự đoán lượng bệnh nhân nhập viện, giúp phân bổ nhân sự hiệu quả hơn. 2.5. Nghiên cứu & phát triển dược phẩm AI giúp đẩy nhanh quá trình phát triển thuốc bằng cách phân tích dữ liệu sinh học để xác định hợp chất tiềm năng. Công nghệ này giúp mô phỏng tương tác phân tử chính xác hơn, rút ngắn đáng kể thời gian nghiên cứu. Ứng dụng AI trong y tế ở lĩnh vực này mở ra triển vọng cho các loại thuốc mới. 3. Lợi ích nổi bật của việc ứng dụng AI trong y tế

Ứng dụng AI trong y tế: Xu hướng tất yếu cho hệ thống y tế thông minh và bền vững

AI đang mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành Y tế, mang lại những tiến bộ vượt bậc từ chẩn đoán bệnh, phát triển thuốc đến quản lý bệnh viện. Tuy nhiên việc áp dụng AI vẫn còn tồn tại nhiều thách thức và hạn chế. Trong những năm gần đây, AI đã không còn là khái niệm xa lạ mà dần trở thành yếu tố cốt lõi trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là Y tế. Trong bối cảnh ngành y toàn cầu, bao gồm cả Việt Nam, đang chịu áp lực lớn về chi phí, nhân lực và nhu cầu điều trị cá nhân hóa, việc ứng dụng AI không chỉ là xu hướng công nghệ mà còn là lời giải cho bài toán phát triển Y tế bền vững. Hãy cùng VNPT AI tìm hiểu những ứng dụng AI trong Y tế trong bài viết dưới đây. Tổng quan về AI trong Y tế Việt Nam Trong những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo AI đã dần thâm nhập vào hệ thống Y tế Việt Nam và mở ra hướng đi mới trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Nổi bật trong số đó là ứng dụng AI vào chẩn đoán hình ảnh tại các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Vinmec hay 108. Công nghệ này hỗ trợ bác sĩ phát hiện sớm các bệnh lý nguy hiểm như ung thư phổi, tổn thương gan hay tim mạch, với độ chính xác cao và thời gian chẩn đoán được rút ngắn đáng kể. Lợi ích của việc ứng dụng công nghệ AI trong Y tế Ứng dụng AI vào lĩnh vực Y tế mang lại nhiều lợi ích thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tối ưu hóa vận hành và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị: AI có khả năng xử lý và phân tích một lượng lớn dữ liệu y khoa như hình ảnh X-quang, CT, MRI, kết quả xét nghiệm… trong thời gian ngắn, giúp bác sĩ phát hiện bệnh sớm và chính xác hơn. Tối ưu hóa quy trình làm việc trong bệnh viện: AI giúp tự động hóa các tác vụ hành chính như ghi chú bệnh án, lập kế hoạch điều trị, phân loại hồ sơ bệnh nhân và hỗ trợ lập lịch khám chữa bệnh. Mở rộng tiếp cận Y tế cho vùng sâu vùng xa: Kết hợp với công nghệ viễn thông, AI giúp triển khai các dịch vụ Y tế từ xa (telemedicine), giúp người dân ở khu vực hẻo lánh được khám bệnh, chẩn đoán và tư vấn điều trị từ các chuyên gia tại tuyến trung ương mà không cần di chuyển. Hỗ trợ nghiên cứu và phát triển thuốc: AI có thể sàng lọc hàng triệu phân tử hóa học để xác định các hợp chất có tiềm năng điều trị bệnh trong thời gian ngắn. Tăng cường trải nghiệm và sự hài lòng của bệnh nhân: Chatbot Y tế, trợ lý ảo và các hệ thống thông minh hỗ trợ giải đáp thắc mắc, đặt lịch, nhắc lịch tái khám… giúp người bệnh được chăm sóc chu đáo, tiện lợi và dễ dàng hơn. Các ứng dụng nổi bật của AI trong Y tế và chăm sóc sức khỏe AI đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong Y tế nhờ khả năng xử lý dữ liệu nhanh chóng, chính xác. Dưới đây là một số ứng dụng tiêu biểu: AI chẩn đoán bệnh Nhờ khả năng xử lý và phân tích dữ liệu lớn, AI có thể hỗ trợ các bác sĩ trong chẩn đoán bệnh chính xác hơn, cụ thể: AI trong chẩn đoán hình ảnh y khoa AI có khả năng đọc và phân tích hình ảnh X-quang, CT, MRI để phát hiện bất thường như khối u, tổn thương nội tạng hay đột quỵ sớm hơn và chính xác hơn. Không chỉ dừng lại ở hình ảnh, AI còn được ứng dụng trong giải phẫu bệnh (pathology) cụ thể là phân tích tế bào học và mô bệnh học kỹ thuật số. Nhờ khả năng học sâu (deep learning), AI có thể phát hiện những đặc điểm vi thể bất thường trong mẫu sinh thiết, hỗ trợ bác sĩ xác định chính xác mức độ ác tính của tế bào ung thư, từ đó đưa ra phác đồ điều trị phù hợp hơn. Một ví dụ tiêu biểu là hệ thống hỗ trợ chẩn đoán ung thư tuyến giáp do Bệnh viện Nội tiết Trung ương phối hợp với VNPT AI phát triển, ứng dụng nền tảng VNPT SmartVision. Hệ thống sử dụng công nghệ học sâu để phân tích hình ảnh siêu âm, nhận diện bất thường trong nhân tuyến giáp và đưa ra xác suất lành hoặc ác tính. Với kho dữ liệu gồm 30.000 ảnh từ hơn 10.000 bệnh nhân trên cả nước , hệ thống được đào tạo và kiểm định chặt chẽ bởi các bác sĩ đầu ngành. Kết quả cho thấy, giải pháp giúp tăng 50% hiệu quả khám chữa bệnh và giảm 25% tỷ lệ chẩn đoán nhầm, đồng thời tối ưu quy trình, giảm can thiệp không cần thiết và nâng cao chất lượng chẩn đoán. Phân tích dữ liệu (Genomics) và Proteomics AI đang mở ra bước tiến lớn trong y học chính xác thông qua việc phân tích dữ liệu genomics (giải mã gen) và proteomics (phân tích protein). Nhờ khả năng xử lý khối lượng dữ liệu sinh học khổng lồ, AI giúp dự đoán nguy cơ mắc các bệnh di truyền, phát hiện sớm đột biến gen liên quan đến ung thư, tim mạch hoặc các rối loạn chuyển hóa. AI trong Điều trị Trong điều trị, AI cũng được ứng dụng rộng rãi: Y học cá nhân hóa (Personalized Medicine) AI là công cụ quan trọng thúc đẩy

NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG TIÊU FIBRIN CỦA TRÍ BẢO HOÀN TRÊN THỰC NGHIỆM

Phạm Thị Vân Anh¹, Vũ Thị Lan², Nguyễn Chí Dưỡng², Nguyễn Triệu Vân², Vũ Quang Huy¹ và Nguyễn Thị Thanh Loan¹,¹ Trường Đại học Y Hà Nội² Công ty TNHH Dược phẩm Napharco Từ khoá: Trí Bảo Hoàn, tiêu fibrin, động vật thực nghiệm. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng tiêu fibrin của chế phẩm Trí Bảo Hoàn trên mô hình gây đông máu bằng thrombin ở thỏ. Thỏ được gây đông máu bằng cách tiêm tĩnh mạch chậm qua rìa tai dung dịch thrombin liều 15 UI/thỏ. Các chỉ số được xác định bao gồm thời gian prothrombin (PT), thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT) và nồng độ D-dimer để đánh giá tác dụng của Trí Bảo Hoàn lên quá trình tiêu fibrin. Bên cạnh đó, hoạt độ AST, ALT cùng nồng độ creatinin và ure trong máu được xác định nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của chế phẩm đến tổn thương tế bào gan và chức năng thận. Kết quả nghiên cứu cho thấy Trí Bảo Hoàn không ảnh hưởng đến quá trình đông máu trên thỏ bình thường. Trên mô hình thỏ gây đông máu bằng thrombin, Trí Bảo Hoàn liều 0,06 viên/kg/ngày không thể hiện tác dụng tiêu fibrin, trong khi liều 0,18 viên/kg/ngày làm tăng nồng độ D-dimer và kéo dài aPTT có ý nghĩa thống kê so với lô mô hình. Cả hai mức liều của Trí Bảo Hoàn không làm thay đổi đáng kể về cân nặng cũng như các chỉ số AST, ALT, ure và creatinin trong máu. Như vậy, Trí Bảo Hoàn liều 0,18 viên/kg/ngày thể hiện tác dụng tiêu fibrin trên mô hình gây đông máu bằng thrombin ở thỏ. Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Thanh LoanTrường Đại học Y Hà NộiEmail: nguyenthanhloan@hmu.edu.vn Ngày nhận: 07/11/2025Ngày được chấp nhận: 04/12/2025 I. ĐẶT VẤN ĐỀ Đông máu là một cơ chế sinh lý quan trọng giúp cơ thể ngăn ngừa mất máu khi mạch máu bị tổn thương. Quá trình này bao gồm sự hoạt hóa tuần tự của các yếu tố đông máu, dẫn đến chuyển fibrinogen hòa tan thành fibrin không hòa tan. Các sợi fibrin sau đó trùng hợp tạo thành mạng lưới bền vững, giam giữ các thành phần hữu hình của máu và hình thành cục máu đông, giúp cầm máu, bảo vệ và phục hồi mô tổn thương. Tuy nhiên, khi hệ thống đông máu bị hoạt hóa quá mức hoặc mất cân bằng với hệ tiêu sợi huyết, các cục huyết khối bất thường có thể hình thành trong lòng mạch. Tình trạng này được gọi là tăng đông, làm gia tăng nguy cơ tắc mạch, thiếu máu cục bộ và tổn thương cơ quan, gây nên nhiều biến chứng nguy hiểm tại tim, não, phổi và các cơ quan nội tạng khác.¹ Trong điều trị các bệnh lý huyết khối, thuốc tiêu fibrin đóng vai trò quan trọng nhờ khả năng hoạt hóa plasminogen thành plasmin, giúp phân hủy fibrin và tái thông dòng máu. Tuy nhiên, các thuốc này có nguy cơ xuất huyết cao, chi phí lớn, và thường chỉ được sử dụng trong điều kiện theo dõi chặt chẽ tại cơ sở y tế.² Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các chế phẩm hỗ trợ tiêu fibrin có nguồn gốc tự nhiên, an toàn hơn và phù hợp với điều trị dự phòng hoặc hỗ trợ dài hạn đang ngày càng được quan tâm. Các dược liệu truyền thống như bá tử nhân, hợp hoan bì, đương quy, câu kỷ tử, thục địa… từ lâu đã được biết đến với tác dụng hoạt huyết, nhưng các nghiên cứu hiện đại đánh giá trực tiếp ảnh hưởng của các dược liệu này lên hệ tiêu sợi huyết hoặc mô hình huyết khối thực nghiệm còn rất hạn chế.³⁴ Bên cạnh đó, một số hoạt chất có nguồn gốc tự nhiên như nattozyme (natokinase), lumbrokinase, chiết xuất lá Bạch quả, và alpha-lipoic acid đã được chứng minh có hoạt tính tiêu fibrin và làm giảm hình thành huyết khối trên nhiều mô hình tiền lâm sàng khác nhau.⁵⁻⁸ Trí Bảo Hoàn là chế phẩm kết hợp giữa nattozyme, lumbrokinase và các dược liệu cổ truyền có tác dụng hoạt huyết. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đánh giá tác dụng chống đông và tiêu fibrin phối hợp của toàn bộ các thành phần này trong cùng một công thức. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng tiêu fibrin của Trí Bảo Hoàn trên mô hình gây đông máu bằng thrombin ở thỏ và ảnh hưởng của Trí Bảo Hoàn lên mức độ huỷ hoại tế bào gan và chức năng thận của thỏ. II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 1. Đối tượng Sản phẩm nghiên cứu Sản phẩm nghiên cứu là Trí Bảo Hoàn của Công ty TNHH Dược phẩm Napharco. Dạng bào chế: viên hoàn. Trong 1 viên có chứa: Nattozyme Phygic 1000mg; 2100mg cao hỗn hợp tương đương thảo mộc (gồm Bá tử nhân (Platycladus orientalis) 3000mg; Hợp hoan bì (Albizia julibrissin) 1000mg; Phục thần (Poria cum Radice Pini) 1000mg; Đương quy (Angelica sinensis) 1000mg; Câu kỷ tử (Lycium barbarum) 1000mg; Thục địa (Rehmannia glutinosa) 1000mg; Ngải tượng (Curcuma zedoaria) 1000mg; Hòe hoa (Sophora japonica) 500mg; Liên tâm (Nelumbo nucifera) 500mg; Cam thảo (Radix Glycyrrhizae) 500mg); Bột Hổ phách 300mg; Lumbrokinase 200FU; Chiết xuất lá bạch quả (Ginkgo biloba) 120mg; GABA 100mg; Magnesium gluconat 50mg; Alpha lipoic acid 20mg; L-theanin 15mg; Vitamin B6 3,5mg; Astaxanthin 5% 3,5mg. Sản phẩm đạt tiêu chuẩn cơ sở. Số ĐKSP: 3338/2024/ĐKSP. Số lô sản xuất: 03.2025. Ngày sản xuất: 12/3/2025. Hạn sử dụng: 11/3/2028. Sản phẩm được bảo quản nơi khô ráo, tránh ánh sáng trực tiếp, nhiệt độ dưới 30°C. Liều dùng dự kiến trên người là 1 viên/lần/ngày. Sản phẩm thử được hòa tan hoàn toàn trong nước cất trước khi cho động vật thực