16 Quần Ngựa, Phường Ngọc Hà, Hà Nội

Việt Nam mua ‘siêu máy’ điều trị ung thư thế hệ mới nhất của Mỹ

(Chinhphu.vn) – Tổng Bí thư Tô Lâm và đoàn đại biểu cấp cao đã chứng kiến buổi lễ ký Hợp đồng mua và chuyển giao công nghệ vận hành hệ thống “siêu máy” điều trị ung thư Proton Mevion S250-FIT thế hệ mới nhất giữa Bệnh viện Tâm Anh và hãng Mevion, đưa Việt Nam thành nước thứ hai ngoài Mỹ sở hữu công nghệ này. Chiều 18/2 tại Washington, DC (Mỹ), trước sự chứng kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm và đại diện Bộ Thương mại Mỹ, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Tâm Anh và Tập đoàn Công nghệ thiết bị Y tế Mevion (Mevion Medical Systems, Inc.) chính thức ký Hợp đồng mua và chuyển giao công nghệ vận hành hệ thống “siêu máy” điều trị ung thư Proton Meivon thế hệ mới nhất (S250-Fit), hiện đại hàng đầu thế giới, trị giá gần 2.000 tỷ đồng. Hệ thống điều trị ung thư Proton Mevion S250-FIT là thế hệ mới nhất, được phát triển công nghệ ở mức gần như hoàn hảo cho mục tiêu điều trị ung thư bằng xạ trị proton – liệu pháp ưu việt trong điều trị ung thư về hiệu quả và độ an toàn ở mức rất cao so với xạ trị thông thường. Ở phiên bản công nghệ mới, cao cấp này, FDA đã chính thức cấp phép sử dụng vào tháng 10/2025 và Bệnh viện Stanford (Mỹ) là đơn vị đầu tiên đặt mua để sử dụng trong điều trị. Với sự tinh vi của công nghệ, số lượng hệ thống máy cung cấp cho thị trường là rất khan hiếm, do đó, với hợp đồng ký kết này, Việt Nam sẽ là nước thứ 2 bên ngoài Mỹ có thể đặt mua hệ thống máy. Phần mềm và công nghệ sử dụng ở phiên bản tốt nhất, tương đương với các bệnh viện hàng đầu trên thế giới về điều trị ung thư. Chính thức tham gia mạng lưới điều trị ung thư công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới Với sự hiện diện của hệ thống xạ trị proton thế hệ mới này, hệ thống BVĐK Tâm Anh, Việt Nam chính thức tham gia mạng lưới điều trị ung thư công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới từ Mevion, mang lại rất nhiều lợi ích cho người bệnh tại Việt Nam giống như hàng chục nghìn bệnh nhân tại Mỹ đã được điều trị tốt bởi những thế hệ máy xạ trị proton Mevion trong những năm qua. Tại buổi lễ, các bên đã một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của hợp tác giữa Việt Nam và Mỹ trong các lĩnh vực, trong đó trọng tâm là khoa học công nghệ hiện đại, bao gồm công nghệ đỉnh cao về y tế, không chỉ đáp ứng cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân mà còn là cơ hội phát triển du lịch y tế. Khác với các máy xạ trị proton thế hệ cũ, cồng kềnh, phức tạp, “siêu máy” xạ trị Proton Mevion S250-FIT thế hệ mới nhất có kích thước nhỏ gọn, thời gian chuyển giao, lắp đặt và chính thức vận hành rút ngắn hơn rất nhiều, mở rộng cơ hội cho nhiều người bệnh được tiếp cận nhanh và sớm hơn với công nghệ xạ trị tiên tiến của thế giới trong hành trình chạy đua với bệnh tật. Hệ thống “siêu máy” xạ trị Proton Mevion S250-FIT đầu tiên tại châu Á vừa được Bệnh viện Tâm Anh đặt mua thành công, kỳ vọng giúp người bệnh ung thư được điều trị hiệu quả cao, an toàn, chi phí hợp lý. AI phân tích chuyên sâu, vượt trội TTND.TS.BS.CKII Phạm Xuân Dũng, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Hệ thống BVĐK Tâm Anh TP.HCM cho biết, kỹ thuật xạ trị Proton có ưu điểm vượt trội “siêu trúng, siêu đúng, siêu an toàn” khi năng lượng tiêu diệt khối u được AI phân tích chuyên sâu để xác định chính xác vị trí của khối u, gia tăng hiệu quả điều trị tối ưu nhưng bảo vệ mô lành tốt hơn. Hệ thống này có thể xác định khối u nằm ở vị trí sâu, phức tạp, nhạy cảm (như ung thư đầu cổ, não, tủy sống, phổi, gan…), bảo vệ tối đa các mô lành và cơ quan quan trọng xung quanh (như tim, phổi, não bộ…) so với xạ trị photon tia X truyền thống, ít tác dụng phụ và hiệu quả điều trị cao hơn, an toàn hơn. Đặc biệt, “siêu máy” xạ trị này còn đặc biệt giúp người bệnh giảm tối đa thời gian xạ trị, có thể nằm, ngồi thoải mái với cảm giác an toàn, dễ chịu. Ông Ngô Chí Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hệ thống BVĐK Tâm Anh nhấn mạnh, sự kiện Tâm Anh, Việt Nam và Mevion, Mỹ ký hợp đồng mua – bán hệ thống xạ trị Proton thế hệ mới Mevion S250-FIT là dấu ấn quan trọng không chỉ đối với Hệ thống BVĐK Tâm Anh mà còn có thể coi là bước tiến vượt trội trong hành trình y tế Việt Nam tiếp cận, làm chủ các thiết bị công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh trong lĩnh vực ung thư của Việt Nam. Hệ thống BVĐK Tâm Anh là một trong những mô hình y tế tư nhân hiện đại tiêu biểu tại Việt Nam, tiên phong đầu tư đồng bộ nhiều công nghệ y học tiên tiến hàng đầu thế giới như robot phẫu thuật thần kinh Modus V Synaptive tích hợp AI; robot phẫu thuật Da Vinci Xi thế hệ mới; robot phẫu thuật thay khớp gối CUVIS-Joint; hệ thống thiết bị chẩn đoán hình ảnh hiện đại như CT Somatom Force VB30 hơn 100.000 lát cắt, CT 1975 lát cắt, MRI 3 Tesla… HM

2 thử nghiệm lâm sàng toàn cầu về thuốc đích, thuốc miễn dịch điều trị ung thư phổi của Bệnh viện K được đánh giá xuất sắc

SKĐS – Các hoạt động phòng chống ung thư của Việt Nam nói chung và Bệnh viện K nói riêng được ghi nhận, đánh giá cao trong khu vực và quốc tế. Bệnh viện K tham gia 2 thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm toàn cầu theo chuẩn mực quốc tế về thuốc đích và thuốc miễn dịch trong ung thư phổi được tuyển lựa đánh giá xuất sắc… SKĐS – Tỷ lệ chữa khỏi một số bệnh ung thư của Bệnh viện K và một số bệnh viện ở nước ta đã ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Một thuận lợi lớn nữa cho người bệnh ung thư là hầu hết các xét nghiệm, hóa chất, xạ trị, phẫu thuật đều được BHYT chi trả toàn bộ hoặc một phần… Thông tin tại hội nghị Best of ASCO 2024 diễn ra hôm nay – 1/11 với hình thức trực tiếp và trực tuyến, GS.TS Lê Văn Quảng – Giám đốc Bệnh viện K cho biết, hội nghị có 30 bài báo cáo đa dạng về các chủ đề bao gồm ung thư vú, phụ khoa-niệu sinh dục, phổi, đầu cổ, tiêu hoá, huyết học. Diễn đàn quy tụ các chuyên gia ung thư uy tín hàng đầu trong nước và quốc tế Hội nghị quy tụ các chuyên gia ung thư uy tín hàng đầu của Việt Nam và nhiều nước bao gồm Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia, Hongkong, Thái Lan, Ấn Độ thuyết trình các đề tài được tuyển lựa kỹ lưỡng từ hội nghị thường niên ASCO 2024. Đây là lần đầu tiên Hội nghị Best of ASCO được tổ chức tại Việt Nam và Bệnh viện K là một trong những cơ sở đi đầu trong khu vực hợp tác với ASCO đăng cai phối hợp tổ chức hội nghị. Các chuyên gia của Bệnh viện K cùng với hội đồng khoa học của ASCO tuyển lựa các đề tài không những xuất sắc nổi bật từ hội nghị thường niên ASCO 2024 mà còn thiết thực, có tính ứng dụng, phù hợp với điều kiện Việt Nam để thuyết trình, phân tích và thảo luận. Theo GS.TS Lê Văn Quảng, thời gian qua, Bệnh viện K hợp tác với nhiều cơ sở, bệnh viện, hiệp hội ung thư uy tín trong và ngoài nước ở tất cả các lĩnh vực dự phòng, sàng lọc, chẩn đoán, điều trị, đào tạo và nghiên cứu ung thư với mục tiêu tăng cường hợp tác, thúc đẩy liên kết, hình thành cộng đồng chung trong cuộc chiến phòng chống, giảm nhẹ gánh nặng bệnh ung thư. “Những năm gần đây bệnh viện có nhiều hoạt động hợp tác với ASCO (Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ), đặc biệt trong lĩnh vực tập huấn, đào tạo. ASCO là hiệp hội ung thư lâm sàng lớn nhất thế giới với hơn 50.000 thành viên trên toàn cầu là các y bác sĩ, các nhà khoa học trong lĩnh vực ung thư với sứ mệnh cung cấp thông tin, kiến thức chuyên môn cập nhật, thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo, đưa ra các sáng kiến, tăng cường hiểu biết, hợp tác trong cộng đồng ung thư toàn cầu để giải quyết các vấn đề thách thức trong cuộc chiến phòng chống bệnh ung thư”- GS.TS Lê Văn Quảng cho biết. Hội nghị thường niên của ASCO là diễn đàn ung thư quốc tế lớn và uy tín bậc nhất, công bố và thảo luận các kết quả nghiên cứu quan trọng, có tính đột phá ảnh hưởng và thay đổi thực hành ung thư lâm sàng trên toàn cầu. Hội nghị ASCO năm 2024 quy tụ hơn 45.000 y bác sĩ, nhà nghiên cứu tham dự, với hơn 3.000 công trình khoa học được thuyết trình và thảo luận về các tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực ung thư. Đầu năm 2024, Bệnh viện K đã nộp hồ sơ đăng cai hội nghị Best of ASCO 2024 (Tiêu điểm nổi bật từ Hội nghị ASCO 2024) và được ASCO phê duyệt là đơn vị hội đủ các điều kiện và tiêu chuẩn để cấp phép phối hợp tổ chức. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác với ASCO, thông tin hội nghị Best of ASCO tại Việt Nam đã được gửi tới toàn bộ thành viên của ASCO trên toàn cầu, cũng như đăng trên trang chính thức của ASCO với 75.000 theo dõi, giúp quảng bá hình ảnh Bệnh viện K cũng như giới thiệu ngành Ung thư Việt Nam tới các đồng nghiệp quốc tế, thúc đẩy gắn kết, giao lưu, hội nhập sâu rộng chuyên ngành ung thư Việt Nam với cộng đồng ung thư trên toàn cầu. Khẳng định vị thế và khả năng của Bệnh viện K cũng như chuyên ngành ung thư Việt Nam Hội nghị thông tin về những tiến bộ nổi bật trong điều trị ung thư như hiện đã có liên hợp thuốc hoá trị và kháng thể đơn dòng nhắm đặc hiệu tế bào khối u trong ung thư vú di căn; thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch kích hoạt đáp ứng miễn dịch kháng u trong ung thư đường niệu di căn, ung thư thực quản tiến triển, điều trị bổ trợ trước mổ ung thư phổi không tế bào nhỏ, điều trị củng cố ung thư phổi tế bào nhỏ sau hoá xạ trị. Và các thuốc nhắm đích khóa biến đổi ở cấp độ phân tử có thể dẫn đến tiến triển khối u như thuốc ức chế PARP bổ trợ trước trong ung thư buồng trứng, thuốc kháng EGFR củng cố sau hoá xạ trị ung thư phổi giai đoạn III. Các nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới như phẫu thuật qua đường miệng, xạ trị photon điều biến liều trong ung thư đầu cổ, ứng dụng chiết tách xét nghiệm DNA khối

Hàng trăm bệnh nhân thử nghiệm thuốc ung thư thế hệ mới

Hơn 30 chương trình thử nghiệm lâm sàng đa quốc gia tại Bệnh viện Chợ Rẫy giúp hàng trăm người bệnh tiếp cận thuốc điều trị ung thư thế hệ mới miễn phí. TS.BS Lê Tuấn Anh, Giám đốc Trung tâm Ung bướu, Bệnh viện Chợ Rẫy, tại hội nghị Cập nhật các tiến bộ điều trị từ Hội ung thư nội khoa châu Âu, ngày 30/1, cho biết nơi này đang thực hiện hơn 30 nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng quốc tế. Đây là các loại thuốc phát minh mới nhất, chưa được cấp phép lưu hành thương mại tại Việt Nam cũng như trên thế giới. Các loại thuốc ung thư thế hệ mới, đặc biệt là thuốc đích và thuốc miễn dịch, thường có chi phí rất đắt đỏ, giá tiền có thể lên đến hàng chục ngàn USD khi thuốc ra thị trường. Việc được tham gia vào chương trình thử nghiệm giúp người bệnh trút bỏ hoàn toàn gánh nặng tài chính này. Bệnh nhân khi đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu sẽ được hỗ trợ toàn bộ chi phí từ thuốc điều trị, xét nghiệm chẩn đoán, theo dõi định kỳ cho đến chi phí đi lại. Với những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn hoặc ung thư giai đoạn muộn, cơ hội này quý giá được ví von như “trúng số” vì mở ra thêm một cánh cửa sống mà không tốn kém.   Hiện nay, các nghiên cứu tại Chợ Rẫy tập trung vào những xu hướng điều trị tiên tiến nhất thế giới. Nổi bật là liệu pháp Liên hợp kháng thể – thuốc (ADC). Khác với hóa trị truyền thống thường gây độc tính toàn thân (rụng tóc, suy tủy…), công nghệ ADC hoạt động như một “tên lửa dẫn đường”. Thuốc hóa trị được gắn vào kháng thể, chỉ khi thâm nhập vào đúng tế bào ung thư mới được kích hoạt để tiêu diệt. Đặc biệt, liệu pháp này còn tạo ra hiệu ứng “chết lây lan”, giúp tiêu diệt cả các tế bào ác tính nằm xung quanh khối u đích. Bên cạnh đó là xu hướng điều trị dựa trên dấu ấn sinh học (biomarker). Thay vì chữa ung thư theo cơ quan (vú, gan, phổi…), các bác sĩ sẽ điều trị dựa trên đột biến gene. Ví dụ, bệnh nhân ung thư dạ dày, đường mật hay ung thư vú nếu mang gene HER2 thì có thể dùng chung một loại thuốc đích. “Nếu không bắt kịp những tiến bộ này, chúng ta sẽ lạc hậu hoàn toàn so với khu vực và thế giới”, lãnh đạo Trung tâm Ung bướu Chợ Rẫy nhấn mạnh. Hoạt động nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng tại Bệnh viện Chợ Rẫy được đẩy mạnh đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây, tạo ra lợi ích thiết thực cho cả hai phía. Đối với người bệnh, đây là cơ hội tiếp cận sớm các loại thuốc tiên tiến, được theo dõi sức khỏe sát sao theo quy chuẩn quốc tế. Về phía chuyên môn, bác sĩ Tuấn Anh nhận định đây là phương thức đào tạo tại chỗ hiệu quả nhất. Thay vì chỉ cử một vài cá nhân đi học nước ngoài, việc triển khai nghiên cứu giúp cả đội ngũ y bác sĩ cùng được chuẩn hóa quy trình thực hành, học cách quản lý độc tính của thuốc mới và bắt kịp trình độ y khoa thế giới ngay tại bệnh viện. Đánh giá về tầm quan trọng của hoạt động này, PGS.TS.BS Nguyễn Trường Sơn, nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế, cho hay hiện nay cứ 10 đề tài thử nghiệm lâm sàng thông qua Hội đồng đạo đức Bệnh viện Chợ Rẫy thì có tới 7-8 nghiên cứu về ung thư. Ông đánh giá đây là nỗ lực chung của nhân loại nhằm tìm kiếm giải pháp điều trị tốt nhất, đồng thời kỳ vọng các trung tâm trong nước sẽ liên tục cập nhật phác đồ từ các hiệp hội uy tín như châu Âu, Mỹ để người dân Việt Nam sớm được thụ hưởng những tiến bộ này. Trên toàn cầu, thử nghiệm lâm sàng được xem là “tiêu chuẩn vàng” và là lộ trình bắt buộc để mọi thuốc ung thư thế hệ mới được cấp phép lưu hành. Đối với người bệnh, đặc biệt là những ca giai đoạn muộn hoặc kháng thuốc, đây là cơ hội quý giá để tiếp cận sớm các liệu pháp đột phá như miễn dịch hay thuốc đích (targeted therapy) nhiều năm trước khi chúng được thương mại hóa rộng rãi. Tham gia nghiên cứu còn giúp bệnh nhân giải tỏa gánh nặng tài chính khổng lồ, bởi toàn bộ chi phí thuốc men đắt đỏ và các xét nghiệm gene chuyên sâu thường được nhà tài trợ chi trả hoàn toàn. Tuy nhiên, bản chất của thử nghiệm là quá trình tìm kiếm dữ liệu, do đó người tham gia phải đối mặt với những rủi ro hiện hữu về các độc tính mới chưa từng được y văn ghi nhận hoặc khả năng thuốc không mang lại đáp ứng điều trị như kỳ vọng. Mặt khác, các quy trình nghiêm ngặt về chọn mẫu và yếu tố ngẫu nhiên hóa (randomization) có thể khiến người bệnh rơi vào nhóm đối chứng dùng phác đồ tiêu chuẩn thay vì thuốc mới, đồng thời phải tuân thủ lịch trình theo dõi cũng như xét nghiệm xâm lấn dày đặc hơn điều trị thông thường. Do vậy, đây được xem là một quyết định y khoa cân não, nơi cơ hội sống của cá nhân song hành cùng sứ mệnh đóng góp dữ liệu quan trọng cho sự tiến bộ của ung thư học thế giới. Theo thống kê của Globocan, mỗi năm Việt Nam có hơn 180.000 ca mắc mới ung thư, 120.000 ca tử vong. Tỷ lệ tử vong tại Việt

Những điều cần biết về loại virus Nipah nguy hiểm chết người

(Dân trí) – Nipah là loại virus có tỷ lệ gây tử vong cao, chưa có vaccine và thuốc để điều trị. Nipah được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây bệnh nguy cơ cao. Chính phủ Ấn Độ đang hành động nhanh chóng để ngăn chặn sự bùng phát của virus Nipah sau khi một ổ bệnh được phát hiện tại bang Tây Bengal. Gần 100 người đã phải cách ly tại nhà, các bệnh nhân đang được điều trị tại các bệnh viện ở thành phố Kolkata, một trong số đó đang ở tình trạng nguy kịch. Nhiều quốc gia láng giềng Ấn Độ và tại châu Á cũng đang thực hiện các biện pháp cần thiết để đề phòng nguy cơ lây lan virus Nipah. Vậy virus Nipah là gì và có nguồn gốc từ đâu? Virus Nipah là gì? Virus Nipah (tên khoa học Henipavirus nipahense) là một loại virus lây truyền từ động vật sang người và cũng có thể lây truyền trực tiếp giữa người với người hoặc thông qua thực phẩm bị nhiễm virus. Người bị nhiễm virus Nipah sẽ gặp phải một loạt các bệnh từ nhiễm trùng đến bệnh hô hấp cấp tính, thậm chí viêm não dẫn đến tử vong. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), virus cũng có thể gây bệnh nặng cho các loài vật nuôi như lợn, bò, dê, ngựa, mèo… dẫn đến thiệt hại kinh tế đáng kể cho ngành nông nghiệp. Virus Nipah nguy hiểm đến mức nào? Virus Nipah có tỷ lệ tử vong cao cho người bị nhiễm, với mức được báo cáo dao động từ 40 đến 75%, tùy thuộc tình trạng sức khỏe của người nhiễm, thời điểm bùng phát và chủng virus lưu hành. Theo nghiên cứu của Cơ quan An ninh Y tế Anh, khoảng 20% số người sống sót sau khi nhiễm virus Nipah có thể gặp các di chứng thần kinh lâu dài, chẳng hạn như co giật dai dẳng hoặc thay đổi tính cách, trở nên gắt gỏng hơn. Trong một số trường hợp rất hiếm gặp, người từng nhiễm virus Nipah có thể gặp tình trạng viêm não sau nhiều tháng hoặc nhiều năm kể từ thời điểm nhiễm virus, do virus trong cơ thể tái hoạt động. Các triệu chứng khi nhiễm virus Nipah ở người Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, thời gian ủ bệnh của người nhiễm virus Nipah thường kéo dài từ 4 đến 21 ngày, một số trường hợp hiếm hoi kéo dài đến 45 ngày. Bệnh nhân thường xuất hiện các triệu chứng giống cúm đột ngột, đặc trưng bởi sốt, đau đầu, đau cơ, đau họng và mệt mỏi. Trong một số trường hợp, các triệu chứng về hô hấp như ho, khó thở, viêm phổi cũng xuất hiện với mức độ nghiêm trọng có thể khác nhau. Một số trường hợp nặng cũng gặp tình trạng suy hô hấp cấp tính hoặc bệnh nhân có thể cảm thấy chóng mặt, buồn ngủ, thay đổi ý thức và các dấu hiệu thần kinh cho thấy viêm não cấp tính. Viêm não và co giật xảy ra với các trường hợp nặng dẫn đến hôn mê trong vòng 24 đến 48 giờ sau khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên. Do các dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của người nhiễm virus Nipah không đặc hiệu, điều này có thể dẫn đến tình huống chẩn đoán sai và tạo ra khó khăn trong việc phát hiện ổ dịch để khoanh vùng, cách ly. Người nhiễm virus Nipah có thể được chẩn đoán và phát hiện thông qua các xét nghiệm RT-PCR (phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược) từ dịch cơ thể hoặc xét nghiệm PCR (xét nghiệm sinh học phân tử) hoặc phân lập virus bằng nuôi cấy tế bào. Virus Nipah được phát hiện lần đầu khi nào? Trên thực tế, Nipah không phải là virus mới xuất hiện, mà đã được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1999 sau một đợt bùng phát bệnh viêm não và bệnh hô hấp ở các nông dân nuôi lợn, cũng như những người có tiếp xúc gần với lợn bị nhiễm virus tại Malaysia và Singapore. Hầu hết các ca nhiễm virus đều xuất phát từ việc tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết hoặc tiếp xúc với thịt lợn bệnh mà không có biện pháp bảo hộ. Đợt bùng phát đầu tiên này dẫn đến việc công nhận Nipah là virus gây bệnh nghiêm trọng có khả năng lây nhiễm từ động vật sang người. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó đến nay không ghi nhận thêm đợt bùng phát bệnh do virus Nipah tại Malaysia và Singapore. Một số đợt bùng phát dịch bệnh do virus Nipah cũng đã từng được ghi nhận tại các quốc gia Nam Á như Bangladesh, Ấn Độ trong những năm qua. Tại Philippines, một số ca nhiễm bệnh do virus Nipah đã được ghi nhận vào năm 2014, nhưng sớm kết thúc và không tạo nên đại dịch. Vật chủ lây truyền virus Nipah cho con người là loài gì? Các nghiên cứu khoa học đã xác định các loài dơi ăn trái cây (thuộc chi dơi quạ) là vật chủ tự nhiên của virus Nipah. Các nhà khoa học cho biết có ít nhất 23 loài dơi trên khắp châu Á cũng như một số khu vực tại châu Phi có mang virus Nipah. Con người và các loài động vật khác có thể bị nhiễm virus do tiếp xúc trực tiếp với dơi hoặc ăn thực phẩm bị nhiễm nước tiểu, nước bọt hoặc phân dơi có chứa virus. Mặc dù vật chủ có số lượng lớn và phạm vi phân bố rộng, các đợt bùng phát dịch bệnh do virus Nipah ở người đến nay vẫn chỉ hạn chế ở các quốc gia

Thử nghiệm thuốc mới, 100% bệnh nhân ung thư trực tràng tham gia khỏi bệnh

Toàn bộ 12 bệnh nhân ung thư trực tràng đã khỏi hoàn toàn sau khi được thử nghiệm với thuốc điều trị ung thư mới. Thuốc điều trị ung thư mới có tên Dostarlimab của công ty dược phẩm Anh GlaxoSmithKline. Thuốc Dostarlimab có giá khoảng 11.000 USD/liều và được dùng cho bệnh nhân 3 tuần một lần trong 6 tháng. Cuộc thử nghiệm do Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering ở New York – Mỹ thực hiện. Kết quả cho thấy bệnh ung thư của họ thuyên giảm sau khi được điều trị bằng liệu pháp miễn dịch thử nghiệm. Kết quả được các nhà nghiên cứu công bố trên Tạp chí Y học New England vào ngày 5-6. “Tôi đang chuẩn bị đến Manhattan trong nhiều tuần để xạ trị thì nhận được kết quả từ Memorial Sloan Kettering thông báo mình đã khỏi ung thư” – cô Sascha Roth, một trong 12 bệnh nhân tham gia cuộc thử nghiệm, hồi hởi chia sẻ với tờ New York Times – “Tôi đã đem tin vui báo cho gia đình mình nhưng họ không tin”.     Tin vui cũng đến với 11 bệnh nhân khác tham gia thử nghiệm. Căn bệnh ung thư quái ác dường như đã biến mất ở tất cả mọi người. Hiện không thể phát hiện ra bằng cách khám sức khỏe, nội soi, chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI). “Tôi không biết nghiên cứu nào khác về phương pháp điều trị khỏi hoàn toàn bệnh ung thư ở mọi bệnh nhân. Tôi tin rằng đây là lần đầu tiên điều này xảy ra trong lịch sử bệnh ung thư” – Tiến sĩ Louis A. Diaz Jr. Thuộc Trung tâm Ung thư Memorial Sloan Kettering nói với tờ New York Times. Tất cả 12 bệnh nhân tham gia thử nghiệm đều bị ung thư trực tràng tiến triển cục bộ, tức các khối u đã di căn trong trực tràng. Thậm chí, có khi đã đến các hạch bạch huyết nhưng chưa đến các cơ quan khác – cũng như khối u có đột biến gien hiếm gặp được gọi là thiếu hụt sửa chữa không phù hợp (MMRd). Theo giải thích của cộng tác viên y tế CBS News David Agus, loại thuốc nói trên hoạt động bằng cách làm lộ rõ các tế bào ung thư để hệ miễn dịch có thể xác định và tiêu diệt chúng. “Phương pháp điều trị mới này là một loại liệu pháp miễn dịch – phương pháp điều trị chặn tín hiệu ‘đừng ăn tôi’ trên các tế bào ung thư, nhờ đó hệ miễn dịch có thể loại bỏ chúng” – ông David Agus nhấn mạnh. Các bệnh nhân thử nghiệm tiếp tục không có dấu hiệu ung thư ngay cả sau 6 tháng theo dõi trở lên. Điều này có nghĩa họ không còn cần đến các phương pháp điều trị ung thư tiêu chuẩn như phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị. Họ hiện đã không còn ung thư trong vòng từ 6-25 tháng sau khi thử nghiệm kết thúc. Cũng không có bệnh nhân nào chịu bất kỳ tác dụng phụ nghiêm trọng do thuốc – khác với khi họ phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị. Được khích lệ bởi sự thành công trên, các nhà nghiên cứu đồng ý cần nhân rộng thử nghiệm này trong một nghiên cứu lớn hơn nhiều. Họ lưu ý nghiên cứu nhỏ vừa qua chỉ tập trung vào những bệnh nhân có dấu hiệu di truyền hiếm gặp trong khối u. Tuy nhiên, tỉ lệ thuyên giảm 100% ở các bệnh nhân là một dấu hiệu ban đầu rất hứa hẹn. Thử nghiệm tiếp theo dự kiến bao gồm 30 bệnh nhân, giúp cung cấp bức tranh tốt hơn về mức độ an toàn và hiệu quả của loại thuốc mới. Trung Tâm Y tế khu vực Phú Lâm   Nguồn tin : 24h.com.vn

Nga công bố ca điều trị ung thư máu thành công đầu tiên bằng loại thuốc mới

Bệnh nhân ung thư máu tự nguyện tham gia thử nghiệm lâm sàng và được dùng thuốc “Utzhefra” theo hai liều vào ngày 12 và 13-12 mà không gặp bất kỳ biến chứng nghiêm trọng. Một phụ nữ Nga 59 tuổi đã hoàn thành quá trình điều trị một cách thành công bằng thuốc điều trị tế bào CAR-T “Utzhefra,” một sản phẩm nội địa mới của “xứ sở bạch dương” hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Phóng viên tại Moskva dẫn thông báo của Trung tâm Huyết học thuộc Bộ Y tế Nga, bệnh nhân ung thư máu này đã tự nguyện tham gia thử nghiệm lâm sàng và được dùng thuốc “Utzhefra” theo hai liều vào ngày 12 và 13 tháng 12 mà không gặp bất kỳ biến chứng nghiêm trọng nào sau khi trải qua giai đoạn chăm sóc đặc biệt và theo dõi về số lượng máu, hoạt động của tế bào CAR-T và tình trạng của các cơ quan sinh học thiết yếu. Thử nghiệm lâm sàng đầu tiên tại Nga về loại thuốc tế bào CAR-T tự sản xuất “Utzhefra” để điều trị các bệnh máu ác tính bắt đầu được tiến hành tại Trung tâm nghiên cứu y học huyết học quốc gia thuộc Bộ Y tế Nga vào tháng 12 năm 2024. Tham gia thử nghiệm lâm sàng có 60 bệnh nhân mắc bệnh ác tính về huyết học tế bào B tái phát với sự hiện diện của kháng nguyên CD19 trên bề mặt tế bào khối u. Trong vòng một năm sau khi dùng thuốc, tất cả bệnh nhân sẽ được kiểm tra định kỳ, xét nghiệm máu để xác định tình trạng bệnh tiềm ẩn và theo dõi tình trạng thuyên giảm. Tất cả bệnh nhân tham gia nghiên cứu sẽ được theo dõi trong 15 năm để đánh giá những biến chứng muộn có thể xảy ra. Thuốc tế bào CAR-T “Utzhefra” để điều trị khối u máu ác tính tế bào B được phát triển tại phòng thí nghiệm miễn dịch ghép của Trung tâm nghiên cứu y học huyết học quốc gia thuộc Bộ Y tế Nga và đã vượt qua tất cả các giai đoạn nghiên cứu tiền lâm sàng. “Utzhefra” được dùng để điều trị các khối u ác tính tế bào B mang kháng nguyên CD19 trên bề mặt. Các thử nghiệm lâm sàng nhằm đánh giá khả năng dung nạp, tính an toàn và hiệu quả của thuốc ở bệnh nhân trưởng thành mắc các dạng bệnh tái phát và kháng thuốc. Nguồn: https://baobinhphuoc.com.vn/news/14/168303/nga-cong-bo-ca-dieu-tri-ung-thu-mau-thanh-cong-dau-tien-bang-loai-thuoc-moi?gidzl=952fM8CgDnKZIwjRW3mq4Y54gbkQEZP6DaAk3vO-D44tIQyCns9WGZSV-WYJCcH7DKcg3sALJwrvW2ys5W

Bệnh nhân đầu tiên tại Việt Nam thử nghiệm thuốc tiềm năng chữa ung thư của Mỹ

Ba tháng sau khi Hệ thống BVĐK Tâm Anh triển khai nghiên cứu VISTA-1 về thuốc miễn dịch đường uống điều trị ung thư, 8 bệnh nhân ung thư đại trực tràng giai đoạn cuối đầu tiên được điều trị theo đề cương nghiên cứu, bước đầu chưa ghi nhận tác dụng phụ đáng kể liên quan đến thuốc nghiên cứu và có tín hiệu tốt. Nghiên cứu VISTA-1 về thuốc miễn dịch đường uống RBS2418, do Công ty dược sinh học Riboscience (Mỹ) phát triển, có sự tham gia của các chuyên gia từ Đại học Stanford (Mỹ). VISTA-1 được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt vào tháng 9/2024 và Bộ Y tế Việt Nam cấp phép vào tháng 12/2024. TS.BS Vũ Hữu Khiêm, Trưởng khoa Ung bướu BVĐK Tâm Anh Hà Nội, tư vấn cho người bệnh về các điều kiện, quy trình tham gia nghiên cứu VISTA-1 Trong nghiên cứu pha 1 tại Mỹ, RBS2418 ghi nhận dữ liệu ban đầu về độ an toàn và khả năng dung nạp. Ở pha 2A, nghiên cứu tiếp tục đánh giá tính an toàn và hiệu quả tiềm năng của thuốc. Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham gia một nghiên cứu lâm sàng thuốc điều trị ung thư ngay từ giai đoạn 2A với vai trò là điểm nghiên cứu chính. Hệ thống BVĐK Tâm Anh là một trong những đơn vị ngoài Mỹ tham gia nghiên cứu này trên thế giới. Đặc biệt, BVĐK Tâm Anh có các chuyên gia đủ năng lực và thiết bị phòng Labo hiện đại để thực hiện “xét nghiệm trung tâm” (central lab) ngay tại chỗ mà không phải chuyển mẫu xét nghiệm ra nước ngoài như trước đây. Đến nay, sau 3 tháng, BVĐK Tâm Anh đã tiếp nhận và sàng lọc hàng trăm bệnh nhân, trong đó 8 người đang được điều trị theo phác đồ nghiên cứu VISTA-1. TS.BS Vũ Hữu Khiêm, Trưởng khoa Ung bướu BVĐK Tâm Anh Hà Nội, nghiên cứu viên chính, cho biết các bệnh nhân đang được theo dõi chặt chẽ về tính an toàn và khả năng đáp ứng thuốc nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu chưa ghi nhận triệu chứng bất thường đáng kể nào liên quan đến thuốc nghiên cứu ở các bệnh nhân sử dụng thuốc trong 3 tháng qua. “Đối với người bệnh ung thư đại trực tràng giai đoạn tiến triển không còn đáp ứng với các phác đồ điều trị hiện tại, mỗi tiến triển về thời gian sống thêm trong quá trình tham gia nghiên cứu đều mang ý nghĩa rất lớn. Hiện chúng tôi cùng với người bệnh đã bước sang tháng thứ 4 triển khai nghiên cứu này”, TS.BS Vũ Hữu Khiêm cho biết. “Tôi cảm thấy tinh thần nhẹ nhõm và có thêm hy vọng” Bệnh nhân M, 50 tuổi, mắc ung thư đại trực tràng di căn gan, đã trải qua các phác đồ điều trị khác nhau như hóa trị, thuốc đích song không đáp ứng. Bác sĩ tư vấn ông chuyển sang chăm sóc giảm nhẹ nhằm hỗ trợ kiểm soát triệu chứng và duy trì chất lượng sống trong bối cảnh bệnh tiếp tục tiến triển. Tháng 1/2025, ông đăng ký tham gia nghiên cứu VISTA-1. Qua quá trình thăm khám và xét nghiệm sàng lọc theo đúng các tiêu chuẩn khắt khe của nghiên cứu VISTA-1 tại BVĐK Tâm Anh, ông được đánh giá đủ điều kiện và trở thành người đầu tiên tại Việt Nam tham gia nghiên cứu này. TS.BS Vũ Hữu Khiêm thăm hỏi một bệnh nhân ung thư. Người bệnh tham gia nghiên cứu VISTA-1 được chăm sóc toàn diện trong quá trình điều trị. “Tôi từng nghĩ mình không còn lựa chọn nào khác, nhưng nhờ cơ hội tham gia nghiên cứu này, tôi cảm thấy tinh thần nhẹ nhõm và có thêm hy vọng. Tôi mong muốn việc mình tham gia có thể đóng góp cho nghiên cứu, không chỉ vì bản thân mà còn vì cộng đồng bệnh nhân ung thư”, ông M chia sẻ. Ông C, 75 tuổi, đến BVĐK Tâm Anh Hà Nội để đăng ký tham gia ngay khi nghiên cứu VISTA-1 chính thức khởi động tại Việt Nam. Phát hiện ung thư đại trực tràng giai đoạn 3 từ năm 2023, ông được hóa trị và phẫu thuật. Một tháng sau, khối u di căn vào phổi, bác sĩ chỉ định ông đốt sóng cao tần điều trị khối u phổi, kết hợp truyền hóa chất. Bệnh tiếp tục tiến triển, bác sĩ đổi sang phác đồ liệu pháp nhắm trúng đích. Tuy nhiên sau một tuần, ông phải dừng điều trị do tác dụng phụ của thuốc. Sau khi vượt qua các bước sàng lọc tại BVĐK Tâm Anh Hà Nội, ông trở thành một trong số ít bệnh nhân cao tuổi đủ điều kiện tham gia nghiên cứu VISTA-1. “Thuốc nghiên cứu dùng đường uống nên có thể sử dụng ngay tại nhà, không cần nhập viện truyền như những loại thuốc miễn dịch thông thường. Điều này rất tiện lợi, nhất là với người già, đi lại khó khăn và ở xa bệnh viện như tôi”, ông C cho biết. Ông vẫn sinh hoạt hàng ngày bình thường và chưa ghi nhận dấu hiệu bất thường đáng kể trong quá trình theo dõi sau 1 tháng điều trị trong nghiên cứu. Bác sĩ chuyên môn cao, hệ thống phòng Labo hiện đại chuẩn thế giới phục vụ nghiên cứu thuốc ung thư tiềm năng Theo TS Khiêm, các phản hồi ban đầu từ người bệnh là những ghi nhận quan trọng trong quá trình theo dõi, hỗ trợ đánh giá tính an toàn và hiệu quả của thuốc RBS2418. Các bệnh nhân sẽ tiếp tục được theo dõi và đánh giá ở các mốc thời gian dự kiến là tuần thứ 6, 12 và 20, thông qua chụp cắt lớp vi

Bệnh nhân ung thư Hà Tĩnh có thêm cơ hội điều trị tại chỗ

Để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng cao, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh thành lập khu xạ trị kỹ thuật cao. Sau thời gian ngắn hoạt động, khu điều trị này mang lại kết quả tích cực, giúp bệnh nhân ung thư tiếp cận kỹ thuật hiện đại ngay tại địa phương, không phải chuyển tuyến trên điều trị. Đột phá trong hạ tầng điều trị ung thư của Hà Tĩnh Theo thống kê của ngành y tế, mỗi năm Hà Tĩnh ghi nhận hơn 2.000 ca ung thư mới, trong đó nhiều trường hợp ở giai đoạn tiến triển. Tại Khoa Ung bướu – Y học hạt nhân của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, mỗi năm có tới 4.000 lượt điều trị nội trú và khoảng 14.000 lượt người đến khám, dẫn tới áp lực lớn về nhu cầu điều trị chuyên sâu. Trước khi có hệ thống xạ trị, trung bình mỗi năm bệnh viện phải chuyển gần 4.800 lượt bệnh nhân lên tuyến trung ương để tiếp cận kỹ thuật xạ trị, phương pháp quan trọng trong điều trị nhiều loại ung thư.   Bài toán quá tải, chi phí đi lại và sinh hoạt đắt đỏ, cùng tâm lý mệt mỏi khi phải di chuyển đường dài khiến việc điều trị ung thư của người dân Hà Tĩnh gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, việc xây dựng khu xạ trị kỹ thuật cao đã trở thành yêu cầu bức thiết. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh đầu tư xây dựng khu xạ trị trên diện tích 748,3m², với hệ thống hạ tầng đồng bộ gồm: phòng chụp mô phỏng CTSIM, phòng lập kế hoạch TPS, phòng điều khiển gia tốc và phòng máy gia tốc tuyến tính. Đây là khu xạ trị ung thư đầu tiên của tỉnh, mở ra dấu mốc mới trong năng lực điều trị tại chỗ cho bệnh nhân. Trong trung tâm của khu điều trị là hệ thống máy gia tốc tuyến tính đa mức năng lượng tích hợp bộ chuẩn trực đa lá 160 lá, công nghệ hiện đại bậc nhất hiện nay. Thiết bị này cho phép chiếu xạ tập trung chính xác vào khối u, tối thiểu hóa tổn thương mô lành, đồng thời rút ngắn thời gian mỗi lần chiếu. Việc ứng dụng công nghệ hiện đại giúp bệnh nhân giảm tác dụng phụ, phục hồi tốt hơn và duy trì chất lượng cuộc sống trong quá trình điều trị. Bên cạnh trang thiết bị, bệnh viện đã xây dựng hệ thống phần mềm quản lý bệnh nhân chuyên dụng cho xạ trị, giúp chuẩn hóa quy trình, hạn chế sai sót và đảm bảo tính an toàn trong từng phiên điều trị. Khu xạ trị kỹ thuật cao hiện có 3 bác sĩ chuyên ngành xạ trị, 2 kỹ sư vật lý y khoa và 5 kỹ thuật viên, tất cả đều được các chuyên gia từ bệnh viện tuyến trung ương đào tạo bài bản, chuyển giao kỹ thuật trực tiếp “cầm tay chỉ việc”. Nhờ đó, đội ngũ nhân sự nhanh chóng làm chủ thiết bị và quy trình, vận hành hệ thống ổn định ngay khi đi vào hoạt động. Không chỉ góp phần giảm tải cho tuyến trên, khu xạ trị mới của Hà Tĩnh mang đến những kết quả cụ thể, cải thiện chất lượng sống của nhiều bệnh nhân ung thư. Ông V.V.V., 63 tuổi, ở xã Lưu Vĩnh Sơn, là một trong những bệnh nhân đầu tiên hưởng lợi từ dịch vụ xạ trị tại tỉnh. Ba năm trước, ông phát hiện ung thư phổi và điều trị tại Hà Nội. Gần đây, bệnh có dấu hiệu di căn lên não khiến ông thường xuyên đau đầu, chóng mặt, mất thăng bằng, giảm trí nhớ và phải di chuyển bằng xe lăn. Từ tháng 1/2025, theo khuyến cáo của bác sĩ, ông chuyển về điều trị tại khu xạ trị kỹ thuật cao Hà Tĩnh. Sau 12 buổi xạ trị, tình trạng của ông cải thiện rõ rệt, cơn đau giảm, trí nhớ và khả năng vận động tốt lên, ông V. có thể tự đi lại và sinh hoạt mà không cần hỗ trợ nhiều như trước. Gia đình ông cho biết việc được điều trị gần nhà giúp họ giảm đáng kể chi phí đi lại, ăn ở và áp lực tâm lý. Một trường hợp khác là ông Đ.T.N., 62 tuổi, ở xã Cổ Đạm, nhập viện trong tình trạng đau dữ dội vùng miệng – họng, nói khó, ăn uống kém, vùng sàn miệng viêm rò chảy dịch và có mùi khó chịu. Bác sĩ chẩn đoán ông bị ung thư sàn miệng giai đoạn 4, đáp ứng rất hạn chế với điều trị hóa chất trước đó. Đầu tháng 3/2025, ông N. được chỉ định hóa xạ trị đồng thời tại khu xạ trị kỹ thuật cao. Chỉ sau hai tuần, tình trạng bệnh cải thiện rõ rệt, vùng viêm rò giảm, đau đớn giảm nhiều, ông có thể ăn uống tốt hơn và giao tiếp rõ ràng hơn. Khối u thu nhỏ trên hình ảnh kiểm tra. Đây là một trong nhiều bệnh nhân điều trị tại khu xạ trị và có kết quả khả quan. Những kết quả bước đầu này không chỉ mang đến hy vọng cho từng bệnh nhân, mà còn cho thấy hiệu quả thực sự của việc đầu tư vào hạ tầng y tế chất lượng cao tại địa phương. Giảm gánh nặng chuyển tuyến, kỳ vọng về tương lai điều trị ung thư tại Hà Tĩnh Tiến sĩ Lê Văn Dũng, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, cho biết, trước đây, mỗi năm đơn vị phải chuyển khoảng 20.000 lượt bệnh nhân lên tuyến trên, trong đó hơn 4.000 lượt là bệnh nhân ung thư. Điều này không chỉ tạo áp lực lớn lên các cơ sở

10 kỹ thuật điều trị chuyên sâu được triển khai thành công tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa của thành phố trong năm 2019

Trong năm 2019, các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến cuối của Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục nỗ lực phát triển các kỹ thuật điều trị chuyên khoa sâu trong lộ trình xây dựng một trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực Đông Nam Á, theo định hướng phát triển của lãnh đạo thành phố.     Dưới đây là 10 kỹ thuật điều trị chuyên sâu tiêu biểu đã triển khai thành công tại các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa của thành phố: 1“Sử dụng trí tuệ nhân tạo của Robot Modus V Synaptive trong phẫu thuật thần kinh” tại Bệnh viện Nhân dân 115 Sau gần 3 năm chuẩn bị, ngày 15/02/2019, Bệnh viện Nhân dân 115 đã triển khai thành công phẫu thuật u não bằng hệ thống Robot Modus V Synaptive, đánh dấu bước đi lịch sử của bệnh viện nói riêng và của Ngành Y tế Việt Nam nói chung đối với sự phát triển của châu lục theo định hướng cách mạng công nghiệp 4.0: sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào công tác chăm sóc sức khỏe người bệnh. Tính đến nay, bệnh viện đã tiếp tục triển khai phẫu thuật Robot Modus V Synaptive thành công cho 10 trường hợp bệnh lý u não và u tủy sống. Hệ thống Robot Modus V Synaptive là hệ thống robot tiên tiến, hiện đại nhất trong phẫu thuật thần kinh hiện nay, chỉ mới xuất hiện đầu tiên từ tháng 4/2015 (thế hệ 1), tháng 12/2015 (thế hệ 2) tại Milwaukee, Mỹ. Lần lượt sau đó vào tháng 7/2017 tại Thụy Sĩ, tháng 4/2018 tại Michigan, tháng 5/2018 tại New York, tháng 3/2019 tại London. Như vậy, Bệnh viện Nhân dân 115 là đơn vị đầu tiên của Châu Á triển khai thành công hệ thống Robot Modus V Synaptive, trước cả Vương quốc Anh. Báo cáo đánh giá tổng kết tại Hội nghị Ngoại thần kinh Asean và toàn quốc vào ngày 6/11/2019 cho thấy phẫu thuật Robot Modus V Synaptive là an toàn, hiệu quả, chưa gặp biến chứng sau mổ, người bệnh có chất lượng cuộc sống sau mổ tốt, bảo tồn được các chức năng thần kinh quan trọng. Dựa vào các ưu điểm chính của hệ thống Robot Modus V Synaptive như: (1) cho phép nhìn thấy tương quan giữa tổn thương và các bó dẫn truyền thần kinh; (2) cho phép nhìn thấy các vị trí mà nếu mổ bằng vi phẫu không thể thực hiện được; (3) tự động di chuyển theo dụng cụ mổ; (4) tự động chỉnh nét (auto focus); (5) tương tác giọng nói, Bệnh viện Nhân dân 115 sẽ triển khai hệ thống Robot Modus V Synaptive trong phẫu thuật thức tỉnh (awake surgery – không cần gây mê toàn thân), xuất huyết não tự phát và các bệnh lý thần kinh khác. 2  “Phẫu thuật đặt điện cực kích thích não sâu điều trị bệnh Parkinson” tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương. Để điều trị các bệnh lý rối loạn vận động như bệnh Parkinson, run vô căn, loạn trương lực cơ kháng trị bằng phẫu thuật, năm 2011, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương đã cử các bác sĩ ngoại thần kinh, thần kinh – tâm thần đào tạo ngắn hạn và dài hạn tại Pháp, Úc, Thái Lan và mời chuyên gia nước ngoài Gs Jean Paul Nguyen (Đại học Nantes – Cộng hòa Pháp) đến bệnh viện giảng dạy, phẫu thuật, chuyển giao kỹ thuật. Tháng 04/2019, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương đã chính thức được Sở Y tế phê duyệt kỹ thuật. Tính đến nay đã có 28 người bệnh bị bệnh Parkinson, run vô căn, loạn trương lực được điều trị thành công bằng kỹ thuật đặt điện cực kích thích não sâu tại BV Nguyễn Tri Phương. 3  “Oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể trong điều trị suy hô hấp tuần hoàn ở trẻ em” tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố và Bệnh viện Nhi đồng 1 Xuất phát từ nhu cầu cứu sống các bệnh nhi suy hô hấp, suy tim cấp nguy kịch thất bại với các biện pháp hồi sức chuyên sâu như lọc máu liên tục, thở máy HFO, vận mạch…Bệnh viện Nhi đồng Thành phố và Bệnh viện Nhi đồng 1 đã triển khai thành công kỹ thuật “Oxy hóa máu qua màng ngoài cơ thể (Extracorporeal Membrane Oxygenation ECMO)”. Đây là một kỹ thuật chuyên sâu, không chỉ cần trang bị máy ECMO hiện đại mà còn có đội ngũ chuyên gia về hồi sức cấp cứu, tim mạch, ngoại khoa phối hợp với nhau. Triển khai thành công kỹ thuật này tại 2 bệnh viện chuyên khoa Nhi đã mở ra triển vọng mới trong cứu sống những trẻ em bị viêm cơ tim tối cấp vốn có nguy cơ tử vong cao trong nhiều năm qua. Tại Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, bệnh viện chuyên khoa Nhi đầu tiên phía Nam triển khai kỹ thuật ECMO, tính đến thời điểm hiện nay, sau hơn 18 tháng, bệnh viện đã thực hiện cho 13 trường hợp bệnh nhi suy hô hấp tuần hoàn nặng trong đó có 8 trường hợp viêm cơ tim tối cấp, 2 trường hợp hội chứng suy hô hấp tiến triển ARDS, 2 trường hợp suy hô hấp nặng sơ sinh và 1 trường  hợp hậu phẫu tim bẩm sinh. Tỷ lệ cứu sống là 9/13 (#70%). Đặc biệt, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố đã thực hiện được kỹ thuật ECMO cho trẻ sơ sinh lần đầu tiên tại khu vực các tỉnh phía Nam, cứu sống được trẻ sơ sinh suy hô hấp nặng do viêm phổi hít phân su, không đáp ứng với các biện pháp điều trị thông thường. Tại Bệnh viện Nhi đồng 1, với kỹ thuật ECMO, bệnh viện đã cứu sống được 4 bệnh nhi bị viêm

8 bệnh nhân đầu tiên thử nghiệm thuốc mới điều trị ung thư của Mỹ

(Chinhphu.vn) – Đây là những ca mắc ung thư giai đoạn cuối, đã trải qua nhiều phác đồ điều trị nhưng đều không đáp ứng. Sau khi triển khai phác đồ theo nghiên cứu VISTA-1 tại BVĐK Tâm Anh, 8 bệnh nhân bước đầu đều có tín hiệu tốt. Người bệnh có thể tiếp cận thuốc mới ngay trong nước Nghiên cứu VISTA-1 về thuốc miễn dịch đường uống RBS2418, do Công ty dược sinh học Riboscience (Mỹ) phát triển, có sự tham gia của các chuyên gia từ Đại học Stanford (Mỹ). VISTA-1 được Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA) phê duyệt vào tháng 9/2024 và Bộ Y tế Việt Nam cấp phép vào tháng 12/2024. Trong nghiên cứu pha 1 tại Mỹ, RBS2418 ghi nhận dữ liệu ban đầu về độ an toàn và khả năng dung nạp. Pha 2A là giai đoạn đánh giá về hiệu quả của thuốc phát minh. Đây là lần đầu tiên Việt Nam tham gia một nghiên cứu lâm sàng thuốc điều trị ung thư ngay từ giai đoạn 2A với vai trò là điểm nghiên cứu chính. Hệ thống BVĐK Tâm Anh là đơn vị đầu tiên và duy nhất ngoài Mỹ tham gia nghiên cứu này trên thế giới. Hiện, BVĐK Tâm Anh có đủ nhân lực và thiết bị phòng Labo hiện đại để thực hiện “xét nghiệm trung tâm” ngay tại chỗ, không phải chuyển mẫu xét nghiệm ra nước ngoài như trước. Trước đó, BVĐK Tâm Anh đã tiếp nhận và sàng lọc hàng trăm bệnh nhân, trong đó 8 người đầu tiên đủ điều kiện, đang được điều trị theo phác đồ nghiên cứu VISTA-1. TS.BS Vũ Hữu Khiêm, Trưởng khoa Ung bướu, BVĐK Tâm Anh Hà Nội, nghiên cứu viên chính, cho biết, các bệnh nhân đang được theo dõi chặt chẽ về tính an toàn và khả năng đáp ứng thuốc nghiên cứu. Nhóm nghiên cứu chưa ghi nhận triệu chứng bất thường đáng kể nào liên quan đến thuốc nghiên cứu ở các bệnh nhân sử dụng thuốc trong 3 tháng qua. “Đối với người bệnh ung thư đại trực tràng giai đoạn tiến triển không còn đáp ứng với các phác đồ điều trị hiện tại, thời gian sống thêm của bệnh nhân trong quá trình tham gia nghiên cứu đều mang ý nghĩa rất lớn. Hiện, chúng tôi cùng với người bệnh đã bước sang tháng thứ 4 triển khai nghiên cứu này”, TS.BS Vũ Hữu Khiêm cho biết.     Theo BS Phương Lễ Trí, Giám đốc Điều hành Viện Nghiên cứu Tâm Anh (TAMRI), trước đây, bệnh nhân Việt Nam, đặc biệt là người mắc các bệnh hiểm nghèo như ung thư, thường hạn chế thông tin về các phác đồ nghiên cứu thuốc mới và tiên tiến trên thế giới, do đó phải tìm kiếm cơ hội ở nước ngoài. Việc Việt Nam tham gia các nghiên cứu quốc tế như VISTA-1 giúp bệnh nhân có thể tiếp cận ứng cử viên thuốc mới ngay tại các bệnh viện trong nước, thay vì phải ra nước ngoài. Các nhà khoa học, bác sĩ Việt Nam cũng có cơ hội tiếp cận sớm với quy trình nghiên cứu chuyên nghiệp và thuốc phát minh hàng đầu thế giới, thay vì chỉ được tiếp cận ở giai đoạn muộn trong nghiên cứu trước đây. Hệ thống phòng Labo chuẩn thế giới phục vụ nghiên cứu thuốc ung thư tiềm năng Cũng theo TS Vũ Hữu Khiêm, các phản hồi tích cực ban đầu từ người bệnh là những ghi nhận quan trọng trong quá trình theo dõi, hỗ trợ đánh giá tính an toàn và hiệu quả của thuốc RBS2418. Các bệnh nhân sẽ tiếp tục được theo dõi và đánh giá ở các mốc thời gian dự kiến là tuần thứ 6, 12 và 20, thông qua chụp cắt lớp vi tính, xét nghiệm các chỉ số sinh học bảng câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống. GS.TS.BS Jeffrey S. Glenn, Viện trưởng Viện Vi sinh & chống dịch Stanford (Mỹ), trưởng nhóm nghiên cứu VISTA-1, cho biết, ông rất ấn tượng về tiến độ thu tuyển bệnh nhân tại Việt Nam trong 3 tháng qua. “Chúng tôi đánh giá cao quy trình lựa chọn, quản lý bệnh nhân, cũng như chất lượng phòng xét nghiệm và hạ tầng nghiên cứu của BVĐK Tâm Anh, đặc biệt là sự phối hợp hiệu quả giữa nhóm nghiên cứu tại Mỹ và Việt Nam“, GS Jeffrey nhấn mạnh. VISTA-1 là nghiên cứu quốc tế đầu tiên trong lĩnh vực ung thư mà Việt Nam tham gia ngay từ pha 2A. Để chuẩn bị cho nghiên cứu quan trọng này, Hệ thống BVĐK Tâm Anh và Viện Nghiên cứu Tâm Anh (TAMRI) đã đầu tư mạnh mẽ để phát triển phòng Labo trung tâm đạt tiêu chuẩn ISO 15189 cho các lĩnh vực Huyết học – Sinh hóa – Vi sinh và Sinh học phân tử của Bộ Y tế. Phòng Labo được trang bị nhiều thiết bị chuyên dụng hiện đại phục vụ nghiên cứu như công nghệ Parsortix hỗ trợ tách lọc và thu thập các tế bào khối u lưu hành trong máu ngoại vi (CTC) để phục vụ nghiên cứu; hệ thống máy nhuộm hóa mô miễn dịch tự động Leica Bond RX để đánh giá mức độ biểu hiện của hai chỉ dấu sinh học ENPP1 và cGAS trong tế bào và mô ung thư. Đây là lần đầu tiên các công nghệ này được triển khai trong hệ thống nghiên cứu lâm sàng tại Việt Nam. BVĐK Tâm Anh cũng là đơn vị đầu tiên tại Việt Nam được chuyển giao kỹ thuật xét nghiệm hai chỉ dấu sinh học mới ENPP1 và cGAS, qua đó đủ điều kiện tham gia nghiên cứu VISTA-1. Nghiên cứu VISTA-1 vẫn tiếp tục thu tuyển bệnh nhân tại Việt Nam và Mỹ cho đến khi