16 Quần Ngựa, Phường Ngọc Hà, Hà Nội

Tỷ lệ mắc đái tháo đường tăng nhanh ở cả người trẻ, phòng bệnh cách nào?

SKĐS – Theo số liệu của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới, năm 2025 có 11,1% người trưởng thành trên thế giới đang sống chung với bệnh này. Trong đó hơn 4/10 người đã mắc bệnh đái tháo đường mà không biết tình trạng bệnh của mình. Tại Việt Nam, số người mắc bệnh đái tháo đường ngày càng gia tăng, không chỉ ở người lớn tuổi mà còn lan rộng trong nhóm dân số trẻ – do áp lực cuộc sống, thói quen ăn uống thiếu lành mạnh, ít vận động và sử dụng thực phẩm nhiều đường, nhiều chất béo. Vì vậy, việc phòng bệnh là vô cùng quan trọng. Bí quyết giúp phòng tránh bệnh đái tháo đường hiệu quả: Chế độ ăn hợp lý Ăn uống khoa học rất quan trọng, cần ăn đa dạng, nên ăn các món ăn hỗn hợp, có nhiều món trong một bữa ăn và món ăn nên thay đổi trong ngày, giữa các ngày, theo mùa… Nên hạn chế ăn những thức ăn cung cấp năng lượng rỗng như đường, nước ngọt, kẹo… Ăn chừng mực: không ăn bữa nào quá no hay quá đói, không ăn thứ gì quá nhiều. Ăn thức ăn nguyên vẹn, gần với thiên nhiên để ít bị mất đi các thành phần dinh dưỡng có trong thức ăn. Dùng dầu thực vật thay cho mỡ động vật, lượng bột đường vừa đủ theo nhu cầu hoạt động của cơ thể, tránh dư thừa sẽ dễ làm tăng cân. Nên ăn các loại thịt nạc bỏ da, ăn cá nhiều hơn thịt. Ăn thêm các loại đạm thực vật như đậu hũ, các loại đậu khác. Nên hạn chế mặn, nếu có cao huyết áp chỉ dùng <1/2 muỗng cà phê muối/ ngày kể cả nêm nếm trong thức ăn. Nếu bạn thường ăn sáng với những đồ ăn nhiều dầu mỡ như bánh mì bơ, phomat bơ, khoai tây chiên… hãy đổi vị bằng món salad mỗi sáng. Bổ sung nhiều rau xanh thường xuyên là cách đơn giản nhất để phòng tránh bệnh đái tháo đường. Đây cũng là cách hữu hiệu để giảm thiểu cân nặng, giữ lượng đường trong máu được ổn định. Giảm cân, tránh béo phì Giảm trọng lượng cơ thể là cách đơn giản nhất để đưa bạn ra khỏi vòng nguy hiểm của căn bệnh đái tháo đường. Những người thừa cân hoặc béo phì có nguy cơ cao nhất mắc căn bệnh này. Ngay cả đối với bệnh đái tháo đường type 2, chúng ta cũng có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh bằng cách giảm cân. Điều quan trọng là bạn kiểm soát được lượng calo bổ sung vào cơ thể mỗi ngày và chăm chỉ tập luyện thể thao đều đặn. Cần vận động thường xuyên Việc vận động cần thiết để phòng tránh đái tháo đường, hạn chế đi cầu thang máy, đi xe máy, ô tô… nếu thấy không cần thiết. Nên tranh thủ đi bộ, tập luyện nhiều hơn, tốt nhất nên đi bộ hoặc đạp xe mỗi ngày. Hãy tận dụng mọi lúc mọi nơi để đi bộ , ngoài cắt giảm calo thì tập luyện cũng có thể giúp bạn giảm cân và sử dụng insulin trong cơ thể hiệu quả hơn. Rèn luyện thể lực tốt với tất cả mọi người trong đó có cả việc phòng ngừa đái tháo đường. Vì vậy, chúng ta cần chơi thể thao hơn 30 phút trong hầu hết các ngày. Tập thể dục khoảng 1giờ/ngày trong hầu hết các ngày. Năng động trong mọi hoạt động, bước khoảng từ 5.000-10.000 bước chân/ngày. Tránh ngồi một chỗ quá lâu khi làm việc, nên nghỉ ngơi 5 phút sau 1 tiếng làm việc. Đối với phụ nữ, nên hạn chế việc làm vào ban đêm. Lựa chọn đồ uống lành mạnh Lựa chọn đồ uống lành mạnh tốt để phòng đái tháo đường, hạn chế uống đồ ngọt có gas thay vào đó nên bổ sung đồ uống từ hoa quả, các loại hạt. Ghi nhận cho thấy một số loại ngũ cốc nguyên hạt cũng giúp ổn định và kiểm soát được lượng đường trong máu. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, bổ sung ngũ cốc nguyên hạt thường xuyên sẽ giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2, đột quỵ, huyết áp cao, thậm chí là chống ung thư vú. Có thể uống cà phê, một số nghiên cứu cho thấy, cà phê hoặc đúng hơn là caffeine có thể ngăn ngừa bệnh đái tháo đường một cách an toàn. Chúng ta nên uống đều đặn 1 ly cà phê mỗi sáng để phòng ngừa nguy cơ mắc bệnh. Uống rượu quá nhiều gây ra chứng bệnh mỡ trong máu cao, chủ yếu cải biến thành triacylglyceride và protein mật độ thấp trong máu. Về mặt lâm sàng chứng minh được, người uống rượu không chỉ làm cho mỡ máu tăng cao mà còn duy trì trong thời gian dài. Đối với những bệnh nhân điều trị bằng insulin uống rượu khi đói bụng dễ gây ra đường máu thấp. Tóm lại: Đái tháo đường là bệnh chuyển hóa mạn tính, nếu căn bệnh này không được kiểm soát thì sau một thời gian sẽ gây nên các tổn thương nghiêm trọng nhiều bộ phận của cơ thể, đặc biệt là các biến chứng tim mạch, thận, thần kinh, bàn chân… thậm chí dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, mọi người đều có thể phòng tránh và làm giảm thiểu tác hại của bệnh đái tháo đường bằng cách thực hiện các biện pháp phòng ngừa, chẩn đoán sớm và chăm sóc thích hợp. Và xét nghiệm máu là cách duy nhất để phát hiện bệnh đái tháo đường.   Nguồn: https://suckhoedoisong.vn/ty-le-mac-dai-thao-duong-tang-nhanh-o-ca-nguoi-tre-phong-benh-cach-nao-169251116184256114.htm

Thuốc chữa ung thư của Nga được cấp phép lưu hành tại Việt Nam

Bộ Y tế cấp phép lưu hành thuốc ung thư Pembroria do Nga sản xuất – sản phẩm chứa hoạt chất Pembrolizumab, mở thêm lựa chọn điều trị cho bệnh nhân Việt. Ngày 11/11, đại diện Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế, cho biết thuốc Pembroria do Nga sản xuất là một trong 14 vaccine, sinh phẩm được Cục phê duyệt vào cuối tháng 10. Thuốc Pembroria chứa hoạt chất chính Pembrolizumab hàm lượng 100mg/4ml, do Công ty Limited Liability “PK-137” (Nga) sản xuất và một cơ sở tại Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đăng ký. Thuốc được bào chế dưới dạng dung dịch đậm đặc pha dung dịch tiêm truyền, hạn sử dụng 24 tháng kể từ ngày sản xuất. Thuốc có phổ chỉ định rộng, dùng trong điều trị nhiều loại ung thư như ung thư biểu mô phổi, u hắc tố, ung thư đại trực tràng, ung thư cổ tử cung, ung thư biểu mô tế bào thận, ung thư vú… Sản phẩm được cấp phép lưu hành tại Việt Nam giúp người bệnh thêm cơ hội tiếp cận các liệu pháp tiên tiến. Theo đại diện Cục quản lý Dược, thuốc Pembroria là một loại kháng thể đơn dòng sản xuất theo thuốc gốc (sinh phẩm tham chiếu gốc) của hãng dược MSD – một công ty dược phẩm đa quốc gia của Mỹ đã được cấp phép lưu hành từ năm 2017 điều trị ung thư. Trả lời VnExpress, GS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K, cho biết sẽ sớm đưa thuốc này vào điều trị cho bệnh nhân. Thuốc chưa được bảo hiểm y tế chi trả. Hiện giá thành của thuốc Pembroria khoảng 18 triệu đồng/lọ. Bệnh nhân thường dùng hai lọ cho một đợt điều trị. Ngoài loại thuốc của Nga nói trên, Việt Nam hiện có 99 loại thuốc trị ung thư đang được lưu hành. Cùng với thuốc Pembroria, trong đợt cấp giấy đăng ký lưu hành lần này của Cục Quản lý Dược có thêm các vaccine, sinh phẩm y tế điều trị bệnh lý đột quỵ, lupus, loãng xương, bệnh da, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, bệnh về máu, bệnh đa xương cứng…   Trước đó, hội đàm song phương vào tháng 9, Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan và Bộ trưởng Y tế Liên bang Nga Mikhail Murashko thảo luận nhiều hướng hợp tác y tế, trong đó nổi bật là nghiên cứu và chuyển giao vaccine chống ung thư. Đây là thành tựu được Nga công bố đầu tháng 9, kỳ vọng mang tính cách mạng trong điều trị ung thư. Bộ trưởng Lan khẳng định Việt Nam sẵn sàng hợp tác sâu rộng để tiếp cận, chia sẻ và chuyển giao công nghệ liên quan đến loại vaccine này, đồng thời mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm lâm sàng tại Việt Nam. Ngoài vaccine ung thư, hai bên cũng thống nhất tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực: chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc điều trị bệnh hiếm, ung thư và sinh phẩm; trao đổi chuyên gia, sinh viên, giảng viên y khoa; hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, y học cổ truyền, du lịch y tế, y tế số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.   Nguồn: https://vnexpress.net/thuoc-chua-ung-thu-cua-nga-duoc-cap-phep-luu-hanh-tai-viet-nam-4962763.html

Bác sĩ cảnh báo không tùy tiện dùng An Cung Ngưu Hoàng Hoàn phòng đột quỵ

Chứa nhiều thành phần dược liệu quý, An Cung Ngưu Hoàng Hoàn được nhiều người truyền miệng là có khả năng điều trị và phòng ngừa đột quỵ. Sự thật có phải như vậy?   Suốt gần 20 năm qua, mỗi ngày của ông Phạm Lan (73 tuổi, Tây Ninh) bắt đầu bằng những động tác tập thể dục quanh sân và một viên thuốc huyết áp sau bữa sáng. Ngần ấy thời gian sống chung với bệnh tật, ông hiểu rõ nguy cơ đột quỵ luôn lơ lửng trên đầu nên luôn cố gắng kiểm soát sức khỏe tối đa. Đầu năm nay, nghe hàng xóm rỉ tai về An Cung Ngưu Hoàng Hoàn “uống vào là yên tâm, khỏi sợ đột quỵ”, ông cũng mua dùng thử. Hộp thuốc giá gần một triệu, đóng hộp dạng 60 viên và được một người cháu là du học sinh gửi về tận tay. “Tôi thấy vợ chồng người hàng xóm cũng sử dụng loại thuốc này trong thời gian dài và không phát hiện vấn đề sức khỏe gì. Thuốc lại được người nhà gửi về nên tôi cũng yên tâm dùng thử”, ông cho biết. Tuy nhiên, trong lần khám gần đây, khi chia sẻ điều này với bác sĩ, ông mới ngỡ ngàng khi bác sĩ nói loại thuốc ấy không nằm trong bất kỳ phác đồ điều trị nào, và chưa từng có nghiên cứu chứng minh hiệu quả phòng đột quỵ.     An Cung Ngưu Hoàng Hoàn là gì? Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị đột quỵ, trong đó khoảng 5 triệu người tử vong và 5 triệu người bị tàn phế vĩnh viễn. Tại Việt Nam, số liệu mới công bố trong năm 2025 ghi nhận khoảng 222.000 ca đột quỵ mới mỗi năm. Với tỷ lệ mắc mới khoảng 222 ca/100.000 dân và tỷ lệ lưu hành đột quỵ là 1.500 ca/100.000 dân. Theo BSCK1 Lê Thị Thúy Hằng, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM – cơ sở 3, trong bối cảnh ngày càng gia tăng các trường hợp đột quỵ, ngày càng nhiều người tìm kiếm các biện pháp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị hiệu quả căn bệnh này. Đây chính là lí do khiến các loại thuốc, thực phẩm chức năng dễ bị thần thánh hóa. Trong đó, An Cung Ngưu Hoàng Hoàn (ACNHH) – một bài thuốc y học cổ truyền Trung Hoa nổi tiếng trong điều trị đột quỵ và các chứng bệnh liên quan đến tuần hoàn não – cũng được người dân hay truyền miệng nhau rằng có thể giúp phòng ngừa đột quỵ. Bài thuốc ACNHH theo cổ phương bao gồm nhiều thành phần dược liệu quý như ngưu hoàng, uất kim, hoàng cầm, hoàng liên, hùng hoàng, sơn chi, chu sa, mai phiến, xạ hương, trân châu…có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết, lưu thông khí huyết. Bài thuốc được “truyền miệng” có thể dùng để điều trị đột quỵ thể nhồi máu với kích thước cục máu đông nhỏ. Tuy nhiên, hiệu quả thực sự vẫn đang là một dấu chấm hỏi.   Vị thuốc đắt tiền phòng ngừa đột quỵ? Theo bác sĩ Hằng, mặc dù có thể hỗ trợ điều trị một số triệu chứng, ACNHH không thể thay thế các phương pháp điều trị y tế hiện đại. Người bệnh đột quỵ cần phải được điều trị kịp thời với thuốc và can thiệp y tế chuyên sâu. “Hơn nữa, đối với nhồi máu não có kích thước nhỏ, ACNHH hỗ trợ làm tan cục máu đông, giúp mạch máu thuyên tắc tái thông trở lại, còn đột quỵ não do xuất huyết hoặc nhồi máu não diện rộng, khi dùng ACNHH có thể làm mạch máu não tiếp tục bị tổn thương nghiêm trọng hơn”, bác sĩ phân tích. Thậm chí, một số trường hợp bị đột quỵ có dấu hiệu đột quỵ như méo miệng, liệt nửa người, nói đớt, hôn mê… cũng được người nhà cho uống ACNHH thay vì gọi cấp cứu. Điều này làm mất “thời gian vàng” (3-6 giờ đầu) để cứu não, có thể khiến tổn thương não không hồi phục, thậm chí tử vong. Bên cạnh đó, nhiều thành phần trong ACNHH nằm trong danh sách các vị thuốc gây mất an toàn thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế như chu sa (thành phần chính là thủy ngân); hùng hoàng (chứa arsenic); xạ hương (có độc tính cao). Những chất này khi vào cơ thể sẽ gây ra những tổn thương nặng nề trên thận, gan, thần kinh, dẫn đến tình trạng suy tạng nếu dùng sai liều hoặc lạm dụng kéo dài. “Ngoài ra, ACNHH dù được truyền miệng có khả năng phòng ngừa đột quỵ nhưng hiệu quả khoa học của bài thuốc này vẫn chưa được chứng minh bằng các thử nghiệm lâm sàng quốc tế. Các tổ chức y khoa uy tín như Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (AHA/ASA), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hay Bộ Y tế Việt Nam không đưa ACNHH vào phác đồ điều trị hoặc phòng ngừa đột quỵ cấp”, bác sĩ Hằng chia sẻ. Thành phần ACNHH chứa nhiều nguyên liệu quý, có giá thành rất cao. Người dân nên cảnh giác khi mua loại thuốc này vì thị trường hiện nay có nhiều loại ACNHH không rõ nguồn gốc, không được kiểm soát chất lượng, các thành phần trong thuốc có thể không đúng như trên bao bì gây tiền mất tật mang. Bác sĩ Hằng nhấn mạnh, về mặt lý thuyết, ACNHH có khả năng hỗ trợ phòng ngừa đột quỵ nhờ vào khả năng hoạt huyết, thanh nhiệt, ổn định huyết áp và cải thiện tuần hoàn não. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế vẫn còn cần thêm nhiều nghiên cứu khoa học để khẳng định. Cho đến nay, y văn thế giới

Hiểu đúng về thực phẩm chức năng để tránh rước họa vì tin quảng cáo

(Dân trí) – Thực phẩm chức năng có thể cung cấp cho cơ thể vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, lợi khuẩn cũng như các enzyme cần thiết. Tuy nhiên, đây không phải là thuốc. Phân biệt rõ thực phẩm chức năng và thuốc Chia sẻ tại tọa đàm trực tuyến “Thực phẩm chức năng – Hiểu đúng để dùng đúng”, PGS.TS.DS Nguyễn Tuấn Dũng, Nguyên Trưởng Bộ môn Dược lâm sàng, Đại học Y Dược TPHCM, Cố vấn chuyên môn Hệ thống Nhà thuốc Long Châu, cho biết, thuốc và thực phẩm chức năng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Thực phẩm chức năng là những loại thực phẩm thông thường được bổ sung thêm các chất có lợi cho sức khỏe, bao gồm vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, enzyme, các loại men hoặc lợi khuẩn (probiotic và prebiotic). Các sản phẩm này phải được công bố hợp pháp bởi Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), tức là phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và quy định hiện hành, trải qua quá trình thử nghiệm, đánh giá tác động đến sức khỏe con người bởi những cơ quan có chức năng nghiên cứu y học. Trong trường hợp sản phẩm được quảng cáo là hỗ trợ điều trị, thì việc nghiên cứu, thử nghiệm phải được thực hiện tại các bệnh viện tuyến tỉnh trở lên. “Thực phẩm chức năng không phải là thuốc và không có tác dụng điều trị bệnh. Trên nhãn sản phẩm, bắt buộc phải thể hiện rõ hai nội dung “không”. Thứ nhất, không được ghi cơ chế tác dụng. Thứ hai, phải ghi rõ dòng chữ “Sản phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh””, PGS Dũng nhấn mạnh.   Chung quan điểm, BSCKII Đào Trọng Thành, Phó Trưởng khoa Khám bệnh B, Bệnh viện Hữu Nghị, cho biết thêm, về mặt khoa học, thực phẩm chức năng có thể cung cấp cho cơ thể vitamin, khoáng chất, axit amin, axit béo, lợi khuẩn (probiotic), cũng như các enzyme cần thiết. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng đây không phải là thuốc. “Tác dụng của chúng chỉ mang tính điều hòa, hỗ trợ cho quá trình sinh trưởng và trao đổi chất bình thường của cơ thể, chứ không có tác dụng điều trị bệnh. Các vitamin trong thực phẩm chức năng chỉ đóng vai trò khơi mào, tham gia vào quá trình chuyển hóa, chứ không có tác dụng ức chế hay tác động dược lý cụ thể như thuốc”, BS Thành nói. Ông lấy ví dụ, trong một số cơ chế của thuốc, có loại kích thích quá trình miễn dịch của cơ thể, giúp tăng cường phản ứng bảo vệ. Ngược lại, một số thuốc khác có tác dụng ức chế phản ứng viêm, từ đó giúp hạn chế các phản ứng viêm của tế bào, đặc biệt trong quá trình lão hóa hoặc sự phát triển của tế bào ung thư. Điều này cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa thực phẩm chức năng và thuốc. Thuốc có tác dụng điều trị, can thiệp vào cơ chế bệnh lý; còn thực phẩm chức năng chỉ hỗ trợ cơ thể duy trì sự cân bằng và hoạt động khỏe mạnh. Tuy nhiên, hiện nay, thị trường TPCN cũng bộc lộ không ít rủi ro. PGS Dũng ví tình trạng chung như câu “con sâu làm rầu nồi canh”, khiến thực phẩm chức năng bị hiểu sai và mang lại nhiều hệ lụy. Theo ông, vấn đề quảng cáo thổi phồng là một thực trạng đáng lo ngại. Nhiều nơi không ngần ngại đưa ra những lời lẽ sai lệch, chẳng hạn như “làm sạch lòng động mạch” thay vì thuật ngữ chính xác trong y khoa là “giảm rối loạn lipid máu”. Bởi vì “mỡ” chỉ là cách gọi khi ở ngoài cơ thể – như trên đĩa thức ăn – còn khi vào cơ thể, nó tồn tại dưới dạng cholesterol và triglycerid. Trong đó, có loại cần tăng (HDL – loại “cholesterol tốt”) và loại cần giảm (LDL – loại “cholesterol xấu”). Thế nhưng, do ngôn từ quảng cáo quá đà, như “làm sạch lòng mạch”, “bỏ lại quá khứ gầy còm sau lưng”, hay “thuốc giảm béo thần kỳ”, nhiều người bị cuốn theo những lời hứa hẹn viển vông và tin rằng đây là giải pháp thay thế cho thuốc điều trị. Một vấn đề khác là nguồn gốc và chất lượng sản phẩm. Dù là hàng nhập khẩu hay sản xuất trong nước, mọi sản phẩm đều phải có hồ sơ chứng minh nguồn gốc hợp pháp, trải qua kiểm nghiệm y học tại các cơ quan chức năng hoặc bệnh viện tuyến tỉnh trở lên, và khi công bố ra thị trường phải đạt tiêu chuẩn của Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Tuy nhiên, thực tế hiện nay còn nhiều sản phẩm trôi nổi, không rõ xuất xứ, được tung ra thị trường với mẫu mã bắt mắt, giá rẻ, nhưng không đảm bảo chất lượng. Nguyên nhân sâu xa là do lợi nhuận của thị trường thực phẩm chức năng quá cao. Bởi nhà sản xuất không cần đầu tư nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, nên chi phí thấp mà lợi nhuận lớn. Từ đó, hàng giả, hàng nhái dễ dàng len lỏi, khiến thị trường thiếu kiểm soát và mất niềm tin.   Cách nhận biết thực phẩm chức năng giả, kém chất lượng PGS Dũng nêu lên một thực tế người mua thường nhầm, chứ người bán thì không bao giờ “nhầm”. Người bán biết rất rõ mình đang kinh doanh gì – vấn đề là người tiêu dùng phải biết cách chọn lựa nơi uy tín để bảo vệ chính mình. Trước hết, hãy chọn những cơ sở có nguồn gốc rõ ràng, được cấp phép chính thức. Một nguyên tắc đơn giản

Quy trình nghiên cứu thuốc mới (Phần cuối: Đánh giá và chấp thuận)

3.4. Đánh giá thuốc của cơ quan quản lý nhà nước (FDA) Khi một công ty phát triển thuốc có bằng chứng (kết quả tích cực) từ các thử nghiệm ban đầu, nghiên cứu tiền lâm sàng và lâm sàng cho thấy một loại thuốc an toàn và hiệu quả cho mục đích sử dụng dự kiến, công ty có thể nộp đơn xin cấp phép lưu hành thuốc. Nhóm đánh giá của cơ quan quản lý nhà nước (FDA) sẽ xem xét kỹ lưỡng tất cả dữ liệu được nộp về thuốc và đưa ra quyết định phê duyệt hay không. a. Về đơn xin đăng ký lưu hành thuốc mới Đơn đăng ký thuốc mới (NDA) phải trình bày đầy đủ thông tin về một loại thuốc. Mục đích của nó là chứng minh rằng thuốc đó an toàn và hiệu quả cho mục đích sử dụng dự kiến ​​trên nhóm dân số đã được nghiên cứu. Nhà phát triển thuốc phải cung cấp mọi thông tin về thuốc: từ dữ liệu tiền lâm sàng đến dữ liệu thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 – trong NDA. Nhà phát triển phải báo cáo về tất cả các nghiên cứu, dữ liệu và phân tích. Cùng với kết quả lâm sàng, nhà phát triển phải cung cấp: – Nhãn đề xuất cho thuốc mới; – Cập nhật an toàn; – Thông tin về lạm dụng ma túy; – Thông tin bằng sáng chế; – Bất kỳ dữ liệu nào từ các nghiên cứu có thể đã được thực hiện bên ngoài Hoa Kỳ; – Thông tin tuân thủ của hội đồng đánh giá thể chế; – Hướng dẫn sử dụng. b. Đánh giá của FDA Sau khi FDA nhận được NDA, nhóm đánh giá sẽ quyết định xem NDA đã hoàn chỉnh hay chưa. Nếu chưa hoàn chỉnh, nhóm đánh giá có thể từ chối việc tiếp nhận NDA. Nếu NDA đã hoàn chỉnh, nhóm đánh giá có từ 6 đến 10 tháng để quyết định có nên phê duyệt thuốc hay không. Quy trình phê duyệt thuốc mới bao gồm các bước sau: – Mỗi thành viên của nhóm đánh giá sẽ tiến hành đánh giá toàn diện phần hồ  sơ của mình. Ví dụ, nhân viên y tế và chuyên viên thống kê sẽ xem xét dữ liệu lâm sàng, trong khi dược sĩ sẽ xem xét dữ liệu từ các nghiên cứu trên động vật. Trong mỗi chuyên ngành kỹ thuật được đại diện trong nhóm, cũng có một buổi đánh giá giám sát. – Thanh tra FDA đến các địa điểm nghiên cứu lâm sàng để tiến hành kiểm tra định kỳ. Cơ quan này tìm kiếm bằng chứng về việc bịa đặt, thao túng hoặc che giấu dữ liệu. – Cán bộ quản lý dự án sẽ tập hợp tất cả các đánh giá riêng lẻ và các tài liệu khác, chẳng hạn như báo cáo kiểm tra, thành một “Bộ tài liệu”. Tài liệu này sẽ trở thành hồ sơ để FDA xem xét. Nhóm đánh giá đưa ra khuyến nghị, và một quan chức cấp cao của FDA sẽ đưa ra quyết định. c. Sự chấp thuận của FDA Trong trường hợp FDA xác định một loại thuốc đã được chứng minh là an toàn và hiệu quả cho mục đích sử dụng dự kiến, FDA cần phải làm việc với người nộp đơn để phát triển và tinh chỉnh thông tin kê đơn. Việc này được gọi là “ghi nhãn”. Việc ghi nhãn sẽ mô tả chính xác và khách quan cơ sở phê duyệt và cách sử dụng thuốc tốt nhất. Tuy nhiên, thông thường, các vấn đề còn tồn đọng sẽ cần được giải quyết trước khi thuốc được phê duyệt đưa ra thị trường. Đôi khi, FDA yêu cầu nhà phát triển giải quyết các câu hỏi dựa trên dữ liệu hiện có. Trong những trường hợp khác, FDA yêu cầu thực hiện các nghiên cứu bổ sung cần thiết. Tại thời điểm này, nhà phát triển có thể quyết định có tiếp tục phát triển hay không. Nếu nhà phát triển không đồng ý với quyết định của FDA, sẽ có cơ chế kháng cáo chính thức lên cơ quan có thẩm quyền. d. Ủy ban cố vấn FDA Thông thường, NDA chứa đủ dữ liệu để FDA xác định tính an toàn và hiệu quả của thuốc. Tuy nhiên, đôi khi, có những vấn đề phát sinh cần được xem xét thêm. Trong những trường hợp này, FDA có thể tổ chức một cuộc họp của một trong các Ủy ban Cố vấn để xin ý kiến ​​chuyên gia độc lập và cho phép công chúng đóng góp ý kiến. Các Ủy ban Cố vấn này bao gồm một Đại diện Bệnh nhân, người sẽ cung cấp ý kiến ​​từ góc nhìn của bệnh nhân.   3.5. Giám sát của FDA về sự an toàn của thuốc sau khi đưa ra thị trường Mặc dù các thử nghiệm lâm sàng cung cấp thông tin quan trọng về hiệu quả và độ an toàn của thuốc, nhưng không thể có đầy đủ thông tin về độ an toàn của thuốc tại thời điểm sau phê duyệt. Mặc dù quy trình phát triển thuốc được thực hiện nghiêm ngặt, nhưng vẫn tồn tại những hạn chế. Do đó, bức tranh thực sự về độ an toàn của một sản phẩm thực sự thay đổi qua từng tháng, thậm chí từng năm, tạo nên vòng đời của sản phẩm trên thị trường. FDA xem xét các báo cáo về vấn đề liên quan đến thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn, và có thể quyết định bổ sung các cảnh báo vào thông tin về liều lượng hoặc cách sử dụng, cũng như các biện pháp khác đối với các vấn đề nghiêm trọng hơn với người sử dụng. FDA thiết lập và đưa ra các

Quy trình nghiên cứu thuốc mới – Phần 2

3.3. Nghiên cứu lâm sàng Là các nghiên cứu thử nghiệm trên người (người tình nguyện hoặc người bệnh). Mặc dù kết quả của giai đoạn nghiên cứu tiền lâm sàng đã trả lời những câu hỏi cơ bản về tính an toàn của thuốc, nhưng kết quả của nghiên cứu tiền lâm sàng không thể thay thế cho các nghiên cứu về cách thuốc sẽ tương tác với cơ thể con người. Giai đoạn này bắt đầu có sự vào cuộc của cơ quan quản lý nhà nước (FDA), vừa với vai trò chấp thuận (hội đồng khoa học), vừa với vai trò cơ quan hỗ trợ, hướng dẫn (hội đồng cố vấn). Khi các nhà phát triển thiết kế nghiên cứu lâm sàng, họ sẽ cân nhắc những gì họ muốn đạt được cho từng giai đoạn nghiên cứu lâm sàng khác nhau. Việc đầu tiên của các hoạt động này là bắt đầu nộp Đơn đăng ký nghiên cứu thuốc mới (IND) lên Cục quản lý Thực phẩm và Dược phẩm – FDA. Sau khi được FDA chấp thuận và cho phép nghiên cứu, khi đó các nhà nghiên cứu và FDA sẽ tiếp tục chuẩn bị và thực hiện các hoạt động như sau: Thiết kế thử nghiệm lâm sàng; Chia giai đoạn nghiên cứu lâm sàng; Nội dung đơn đăng ký nghiên cứu thuốc mới Nêu các yêu cầu (nếu có) cần sự hỗ trợ của FDA; FDA lập nhóm đánh giá IND; Sự chấp thuận sau cùng. a. Thiết kế thử nghiệm lâm sàng Thiết kế thử nghiệm lâm sàng là một dàn ý khung về các hoạt động thử nghiệm thuốc mới trên người. Các nhà nghiên cứu sẽ tiến hành thiết kế thử nghiệm lâm sàng để trả lời các câu hỏi nghiên cứu cụ thể liên quan đến một sản phẩm y tế mới. Các thử nghiệm này tuân theo một kế hoạch nghiên cứu cụ thể, chi tiết và nghiêm ngặt, được gọi là giao thức, do nhà nghiên cứu hoặc nhà sản xuất xây dựng. Trước khi bắt đầu thử nghiệm lâm sàng, các nhà nghiên cứu xem xét thông tin trước đó về thuốc để phát triển các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu cho giai đoạn tiếp theo. Sau đó, họ sẽ quyết định các vấn đề: – Ai sẽ đủ điều kiện tham gia thử nghiệm (tiêu chí lựa chọn); – Có bao nhiêu người sẽ tham gia vào nghiên cứu cho mỗi giai đoạn; – Nghiên cứu sẽ kéo dài bao lâu; – Liệu sẽ có một nhóm kiểm soát và những cách khác nhau để hạn chế sự thiên vị, sai lệch trong nghiên cứu hay không; – Thuốc sẽ được cung cấp cho bệnh nhân như thế nào và liều lượng ra sao; – Những đánh giá nào sẽ được thực hiện, khi nào và dữ liệu nào sẽ được thu thập; – Dữ liệu sẽ được xem xét và phân tích như thế nào. Các thử nghiệm lâm sàng phải tuân theo một chuỗi các giai đoạn nghiêm ngặt, từ các nghiên cứu Giai đoạn 1 (Pha 1) quy mô nhỏ đến các nghiên cứu Giai đoạn 3 quy mô lớn và Giai đoạn 4 sau đó. b. Chia giai đoạn nghiên cứu lâm sàng Thường có 3 đến 4 giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng (còn gọi là các pha). Mỗi giai đoạn đều có các tiêu chuẩn riêng, gồm mục tiêu, thời gian và số lượng người tham gia nhất định. Sau đây là tóm tắt các nội dung chính của mỗi giai đoạn (pha): Giai đoạn 1 – Mục tiêu: đánh giá sự an toàn và liều dùng của thuốc mới; – Số lượng người tham gia nghiên cứu: 20 đến 100 tình nguyện viên khỏe mạnh hoặc những người mắc bệnh/tình trạng này; – Thời gian nghiên cứu: vài tháng; – Kết quả: thường có khoảng 70% thuốc chuyển sang giai đoạn tiếp theo. Giai đoạn 2 – Mục tiêu: đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của thuốc mới; – Số lượng người tham gia nghiên cứu: lên đến hàng trăm người mắc bệnh/tình trạng này; – Thời gian nghiên cứu: vài tháng đến 2 năm; – Kết quả: thường có khoảng 33% thuốc chuyển sang giai đoạn tiếp theo. Giai đoạn 3 – Mục tiêu: đánh giá hiệu quả và theo dõi các phản ứng có hại của thuốc mới; – Số lượng người tham gia nghiên cứu: từ 300 đến 3.000 tình nguyện viên mắc bệnh/tình trạng bệnh lý; – Thời gian nghiên cứu: từ 1 đến 4 năm; – Kết quả: thường có khoảng 25-30% thuốc chuyển sang giai đoạn tiếp theo. Giai đoạn 4 – Mục tiêu: đánh giá độ an toàn và hiệu quả của thuốc mới; – Số lượng người tham gia nghiên cứu: hàng ngàn tình nguyện viên mắc bệnh/tình trạng bệnh lý; – Thời gian nghiên cứu: nhiều năm. c. Nội dung đơn đăng ký nghiên cứu thuốc mới Các nhà phát triển thuốc hoặc nhà tài trợ phải nộp đơn đăng ký nghiên cứu thuốc mới (IND) cho FDA trước khi bắt đầu tiến hành các giai đoạn nghiên cứu lâm sàng. Trong đơn IND, các thông tin và nội dung sau phải được mô tả cụ thể: – Dữ liệu nghiên cứu trên động vật và dữ liệu về độc tính (tác dụng phụ gây hại lớn thế nào?); – Thông tin về quá trình sản xuất; – Các giao thức lâm sàng (kế hoạch nghiên cứu) cho các nghiên cứu sẽ được tiến hành; – Dữ liệu từ bất kỳ nghiên cứu nào trước đây của con người; – Thông tin về điều tra viên.  d. Nêu các yêu cầu (nếu có) cần sự hỗ trợ của FDA Các nhà nghiên cứu và phát triển thuốc có thể yêu cầu FDA trợ giúp tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình phát triển thuốc, bao gồm: – Trước khi nộp đơn xin IND, để tiếp

Quy trình nghiên cứu thuốc mới

Nghiên cứu thuốc mới cho điều trị luôn là một nhiệm vụ hàng đầu của ngành dược và ngành y mỗi nước. Việc nghiên cứu thành công thuốc mới mang lại hy vọng sống cho người bệnh, đặc biệt các bệnh ác tính. 1. Nghiên cứu thuốc mới là gì? Nghiên cứu, phát triển thuốc mới là tìm ra giải pháp điều trị hiệu quả, an toàn và hợp lý. Việc mỗi quốc gia tự nghiên cứu, phát triển thuốc mới sẽ góp phần bảo đảm an ninh y tế quốc gia và hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Mục tiêu của việc nghiên cứu và phát triển thuốc mới nhằm: đảm bảo cung ứng đủ thuốc chất lượng cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh; phát triển năng lực nghiên cứu và sản xuất thuốc biệt dược gốc, vắc xin, sinh phẩm; nâng cao giá trị xuất khẩu và xây dựng nền công nghiệp dược hiện đại, ngang tầm quốc tế. 2. Sự phối hợp và cơ sở trong nghiên cứu, phát triển thuốc mới 2.1. Sự phối hợp để nghiên cứu và phát triển thuốc mới Sứ mệnh của các công ty nghiên cứu dược phẩm là tìm ra những loại thuốc mới để điều trị bệnh và vắc xin mới để phòng bệnh một cách an toàn và hiệu quả hơn. Các nhà khoa học làm việc theo từng lĩnh vực phối hợp với nhau để nghiên cứu và phát triển các loại thuốc mới dựa trên hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh ở mức độ cơ quan, tế bào, protein và gen. Từ những hiểu biết đó để xác định “đích tác dụng” của thuốc, nơi mà các phân tử thuốc mới có thể tấn công, biến đổi, phong toả, tiêu diệt các tác nhân gây bệnh. Để đạt được mục này, các nhà nghiên cứu cần: – Đánh giá các đích tác dụng của thuốc; – Tìm kiếm được  đúng các  phân tử  thuốc (các thuốc có  khả năng) liên kết với các đích đã chọn; – Kiểm tra hợp chất mới trong phòng thí nghiệm và  trên lâm sàng về độ an toàn và hiệu quả của thuốc; – Đạt được sự chấp thuận của  cơ quan  có thẩm quyền và đưa  thuốc mới tới tay các bác sĩ để sử dụng cho việc điều trị bệnh. Tuỳ thuộc vào trình độ phát triển y học và điều kiện kinh tế của mỗi nước, thời gian để hoàn thiện tất cả bước nghiên cứu và phát triển thuốc mới này sẽ mất khoảng từ 10-15 năm. 2.2. Cơ sở để nghiên cứu và phát triển thuốc mới Để có thể khống chế và loại trừ bệnh tật, việc đầu tiên mà các nhà khoa học cần tìm hiểu chính là cơ chế hoạt động của bệnh trong cơ thể người ở mức độ phân tử. Các tiến bộ gần đây của khoa học nói chung và y sinh học nói riêng trong các lĩnh vực gen, protein và sức mạnh của máy tính, internet, trí tuệ nhân tạo (AI) đã giúp các nhà khoa học hiểu biết sâu hơn, cụ thể hơn về bệnh. Từ những hiểu biết đó đã giúp các nhà khoa học có những cách tiếp cận phù hợp  trong nghiên cứu về các loại thuốc mới, vắc xin mới và phương pháp mới để điều trị, loại trừ và thanh toán bệnh, đặc biệt các bệnh ác tính, như: điều trị nhắm đích, gen điều trị, miễn dịch điều trị, … Công cuộc tìm kiếm và phát triển thuốc an toàn và hiệu quả cho điều trị sẽ  có nhiều hi vọng hơn khi những kiến thức và hiểu biết về bệnh học tăng lên. Khi xuất hiện các tác nhân gây bệnh mới, các lại vi rút và vi khuẩn mới thì việc nghiên cứu và phát triển các loại thuốc mới ngày càng trở nên thách thức hơn. Trên thế giới, Mỹ là nước đi đầu trong hoạt động nghiên cứu và phát triển thuốc mới. Quy trình nghiên cứu thuốc mới của Mỹ được cho là hoàn thiện hơn cả so với các nước và khu vực khác. Bài viết này cơ bản dựa trên quy trình nghiên cứu thuốc mới của Mỹ. Sẽ cần khoảng thời gian từ 10-15 năm để phát triển một loại thuốc mới từ giai đoạn phát hiện cho tới khi đưa vào điều trị cho người bệnh. Chi phí trung bình cho việc nghiên cứu và phát triển thành công một thuốc mới vào khoảng 800 triệu USD đến 1 tỷ USD. Con số này sẽ bao gồm cả  chi phí cho hàng nghìn những thất bại. Cứ mỗi 5.000 – 10.000 hợp chất tham gia vào quá trình nghiên cứu và phát triển thì cuối cùng cũng chỉ có khoảng 1-2 chất có hiệu quả và được chấp thuận tiếp tục nghiên cứu. Những con số về thời gian và kinh phí để phát triển thuốc mới thực sự thách thức các nhà khoa học. Tuy vậy, việc nghiên cứu và phát triển thuốc mới không thể không được tiến hành. Việc tìm ra một thuốc mới để điều trị cho người bệnh đòi hỏi những nỗ lực lớn và kéo dài. Thành công của việc nghiên cứu thuốc mới đòi hỏi những nguồn lực rộng lớn, những ý tưởng khoa học tốt nhất, năng lực quản lý dự án chuyên nghiệp và bài bản. Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng cần tới cả sự kiên trì, và đôi khi là cả may mắn. Mặc dù vậy, quá trình tìm kiếm thuốc mới sẽ luôn mang lại hi vọng và sự cứu giúp tới hàng triệu bệnh nhân. 3. Các giai đoạn của nghiên cứu và phát triển thuốc mới Để bảo đảm thuốc mới đáp ứng được các yêu cầu an toàn, đặc hiệu và hiệu quả, việc nghiên cứu và phát triển thuốc mới (quy trình

HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ UNG THƯ

Ung thư là một nhóm bệnh trong tứ chứng nan y. Ngày nay với tiến bộ của khoa học y học, nhiều loại ung thư khi được phát hiện sớm và điều trị đúng cách đã được chữa khỏi. Chúng ta hy vọng trong tương lai, ung thư không còn là sự tuyệt vọng của người bệnh. 1. Khái niệm về Ung thư Ung thư là tập hợp các bệnh lý đặc trưng bởi sự phát triển bất thường của các tế bào phân chia không kiểm soát và có khả năng xâm nhập, phá hủy các mô cơ thể bình thường. Hầu hết, các tế bào trong cơ thể đều có chức năng cụ thể và tuổi thọ cố định. Trong quá trình sống, một tế bào ở một độ tuổi nhất định sẽ nhận được chỉ thị để chết và cơ thể có thể thay thế nó bằng một tế bào mới hơn, hoạt động tốt hơn. Các tế bào ung thư bị thiếu các yếu tố hướng dẫn chúng ngừng phân chia và chết. Kết quả dẫn đến sự tích tụ các tế bào ung thư trong cơ thể, sử dụng oxy và chất dinh dưỡng quá mức bình thường, lấn át các tế bào khác. Các tế bào ung thư có thể xuất hiện ở một khu vực, sau đó lan rộng qua các hạch bạch huyết. Một số loại ung thư gây ra sự phát triển tế bào nhanh chóng, trong khi những loại khác làm cho các tế bào phát triển và phân chia với tốc độ chậm hơn. Có hơn 200 loại ung thư khác nhau. Ung thư thường được gọi tên theo cơ quan mà nó phát sinh, ví dụ: Ung thư gan phát sinh từ các tế bào gan, ung thư phổi phát sinh từ các tế bào phổi. Ung thư cũng có thể được gọi theo loại tế bào hình thành chúng như ung thư biểu mô (carcinoma) hay ung thư mô liên kết (sarcoma). Ngoài ra các ung thư có thể phát triển từ tế bào máu, như là các bệnh máu ác tính: leukemia, lymphoma … 2. Sự khác biệt của u lành tính và u ác tính (ung thư) U lành và ung thư có đặc tính sinh học khác nhau. 2.1. Đặc điểm của khối u lành tính Các tế bào có xu hướng không lan rộng; Không xâm lấn mô gần đó; Không di căn đến các bộ phận khác của cơ thể; Hầu hết tăng trưởng chậm; Có ranh giới rõ ràng; Dưới kính hiển vi, hình dạng, nhiễm sắc thể và ADN của các tế bào có vẻ bình thường; Không tiết ra hormone hoặc các chất khác (một ngoại lệ: pheochromocytomas của tuyến thượng thận); Có thể không cần điều trị nếu không đe dọa sức khỏe; –    Không có khả năng tái phát nếu được loại bỏ hoặc yêu cầu điều trị thêm như xạ trị hoặc hóa trị. 2.2. Đặc điểm của khối u ác tính – Các tế bào có thể lây lan; – Thường xâm lấn các mô lân cận; – Thường phát triển khá nhanh; – Có thể lây lan qua máu hoặc bạch huyết; – Có thể tái phát sau khi điều trị, đôi khi ở các cơ quan khác; – Các tế bào có nhiễm sắc thể và ADN bất thường được đặc trưng bởi các hạt nhân lớn, tối; có thể có hình dạng bất thường; – Có thể tiết ra các chất gây mệt mỏi và giảm cân (hội chứng paraneoplastic); – Có thể cần điều trị tích cực, bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, liệu pháp miễn dịch hoặc thuốc điều trị nhắm đích. 3. Triệu chứng bệnh ung thư Các dấu hiệu và triệu chứng gây ra bởi ung thư thay đổi tùy thuộc vào cơ quan của cơ thể bị ảnh hưởng cũng như giai đoạn phát triển của bệnh. Về cơ bản, ở giai đoạn sớm, cơ thể sẽ khó nhận thấy những dấu hiệu khác biệt. Tuy nhiên, một số dấu hiệu và triệu chứng chung liên quan nhưng không đặc hiệu với ung thư có thể kể đến bao gồm: Mệt mỏi; Thay đổi cân nặng bất thường, bao gồm giảm hoặc tăng ngoài ý muốn; Thay đổi da, như vàng, sạm hoặc đỏ da, vết loét không lành hoặc thay đổi nốt ruồi hiện có; Ho dai dẳng hoặc khó thở; Khó nuốt, khàn tiếng; Khó tiêu dai dẳng hoặc khó chịu sau khi ăn; Đau cơ hoặc đau khớp dai dẳng; –    Chảy máu không rõ nguyên nhân hoặc bầm tím. 4. Nguyên nhân gây ung thư Nguyên nhân chính xác gây bệnh ung thư hầu hết chưa được xác định, tuy nhiên các nhà khoa học đã tìm ra mối liên hệ đặc biệt giữa ung thư và các thay đổi gen trong tế bào (đột biến gen). Gen có mặt trong mỗi tế bào cơ thể người, là hệ thống điều khiển hoạt động, điều hòa sự phát triển và phân chia tế bào. Gen bị đột biến ảnh hưởng đến hoạt động và chức năng tế bào, thường khiến tế bào bị phát triển quá mức. Có nhiều nguyên nhân gây ra đột biến gen như: 4.1. Yếu tố di truyền Bộ mã di truyền (AND) của một người được thừa hưởng một nửa từ bố và một nửa từ mẹ. Trong quá trình tế bào sinh trưởng, phát triển và biệt hoá, các AND của tế bào có khả năng gặp các đột biến. Không phải tất cả các trường hợp có gen đột biến đều bị ung thư, tuy nhiên yếu tố này làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư. Thực tế đột biến gen di truyền chiếm tỉ lệ nhỏ gây bệnh ung thư. 4.2. Yếu tố tác động Hầu hết đột biến gen gây ung thư xảy ra do tác động từ môi trường, các tác nhân gây ra thường là: tiếp xúc với hóa

Đột phá mới trong điều trị bệnh tiểu đường

Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi TS. Ngô Anh Tiến – Ngân hàng Sinh học, Trung tâm Công nghệ cao Vinmec. Bệnh tiểu đường là một trong những bệnh mạn tính rất thường gặp. Bệnh lý này gây ra những rối loạn trong chuyển hóa đường máu khiến cho nồng độ đường luôn ở mức cao, gây biến chứng trên nhiều cơ quan như tim, mạch máu, não, mắt, thận,… Các thuốc điều trị hiện nay chỉ giúp ổn định lượng đường hoặc thay thế insulin trong cơ thể bằng cách tiêm insulin tổng hợp. 1. Cấy tế bào gốc từ máu dây rốn của trẻ sơ sinh Theo các nghiên cứu tại Anh và Mỹ, tế bào gốc lấy từ máu của dây rốn trẻ sơ sinh có thể giúp bệnh nhân tiểu đường type 1 khôi phục khả năng sản xuất insulin. Các nhà khoa học đã tách chiết một lượng lớn tế bào gốc để sản xuất ra hợp chất C-peptide. Đây là tiền protein của insulin, thay thế cho các tế bào beta tụy đã hư hại hoặc bị phá hủy. Theo đó, trên các đối tượng bệnh nhân này, lượng insulin trong máu sẽ được phục hồi, giúp cân bằng nồng độ glucose sau khi được cấy tế bào gốc. Nghiên cứu này được xem là bước đột phá quan trọng trong việc ứng dụng tế bào gốc và cũng mở ra hy vọng cho những bệnh nhân tiểu đường type 1 thay vì phải phụ thuộc insulin suốt đời.   2. Bảo vệ tế bào beta khỏi sự tiêu hủy của hệ miễn dịch Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã thành công trong việc dùng tế bào gốc để tạo ra các tế bào beta có khả năng sản xuất insulin và tiến hành thử nghiệm thành công trên chuột khi bệnh tiểu đường ở chuột biến mất sau 6 tháng. Trong tuyến tụy của một người bình thường, mô tế bào beta có chức năng sản xuất ra insulin để giúp cơ thể kiểm soát lượng đường trong máu. Trong khi đó, ở bệnh nhân tiểu đường, chức năng này không còn được đảm bảo, nồng độ đường trong máu sẽ tăng lên rất cao, kích hoạt hệ miễn dịch sẽ tự động tấn công và tiêu diệt tế bào sản xuất insulin. Các nhà khoa học thuộc Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) đã tìm ra phương pháp giúp các tế bào beta tránh được sự phá hủy của hệ miễn dịch bằng cách bao bọc những tế bào beta trong một hợp chất có tên triazole-thiomorpholine dioxide (TMTD). Hợp chất này giúp tế bào beta sống sót khỏi hệ miễn dịch và thực hiện vai trò tổng hợp insulin của mình. Công nghệ này đã được ứng dụng ở những con chuột đã cho phá hủy tế bào beta tụy. Chỉ sau gần 6 tháng, lượng đường trong máu của chuột đã giảm đáng kể, trở về gần mức bình thường. Trắc nghiệm dành riêng cho người mắc đái tháo đường: Chế độ ăn của bạn đã hợp lý chưa? Người bị bệnh đái tháo đường cần phải quan tâm nhiều hơn đến cách tính toán khẩu phần ăn sao cho phù hợp với nhu cầu và tình trạng sức khỏe. 3. Loại thuốc huyết áp giúp điều trị bệnh tiểu đường Methyldopa là một loại thuốc nằm trong danh mục những loại thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, thuộc nhóm thuốc hạ huyết áp. Loại thuốc này đã được hầu hết các bác sĩ Sản khoa và Nhi khoa tin tưởng sử dụng để điều trị bệnh tăng huyết áp ở phụ nữ có thai và trẻ em trong hơn 50 năm qua. Gần đây, methyldopa được phát hiện là có tác dụng ngăn chặn phân tử DQ8 – một trong những nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 1. Do đó, việc ngăn chặn được phân tử này đồng nghĩa với việc có thể ngăn ngừa sự khởi phát của bệnh đái tháo đường. 4. Thiết bị cung cấp insulin cấy dưới da Thiết bị cung cấp insulin cấy dưới da là một sáng chế của các nhà khoa học Anh. Thiết bị này được ví như một tuyến tụy nhân tạo. Nó được cấy vào bụng và hoạt động bằng cách giải phóng insulin vào máu với liều lượng tương thích với bữa ăn. Khi đó, việc tiêm insulin sẽ không cần thiết nữa. Thiết bị bao gồm một đầu chứa insulin được lưu giữ trong ngăn chứa làm bằng gel. Khi lượng đường trong cơ thể tăng lên, các chất gel hóa lỏng và giải phóng insulin vào cơ thể. Insulin tiết ra làm giảm hàm lượng glucose. Khi nồng độ insulin hạ xuống sẽ kích thích chất gel phản ứng lại bằng cách hóa cứng lại một lần nữa, làm chậm dần sự phóng thích insulin và giúp bảo quản insulin như ban đầu. Điều này giúp bệnh nhân tiểu đường không còn phải tiêm insulin nhiều lần mỗi ngày theo từng cữ ăn. 5. Kính áp tròng giúp theo dõi lượng đường trong máu Các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Ulsan tại Hàn Quốc đã chế tạo thành công loại kính áp tròng thông minh, giúp phát hiện nồng độ đường trong máu thông qua nước mắt. Loại kính này có tính năng mềm, dẻo và cho biết kết quả thông qua màn hình kính. Thông báo này sẽ báo cho người sử dụng biết nếu lượng đường quá cao bằng cách tắt một đèn LED nhỏ được tích hợp trong kính. Nếu loại kính này được sử dụng rộng rãi, họ sẽ có thêm một công cụ giúp kiểm soát đường huyết liên tục, tự điều chỉnh khẩu phần ăn thay vì phải lấy máu xét nghiệm. 6. Loài cá mù trong hang động giúp chữa bệnh tiểu đường Mới đây, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Harvard, Mỹ đã

Nga tuyên bố vắc xin ung thư hoàn tất thử nghiệm tiền lâm sàng

TPO – Vắc xin ung thư của Nga đã hoàn tất các thử nghiệm tiền lâm sàng, chứng minh tính an toàn và hiệu quả cao. Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF), bà Veronika Skvortsova, người đứng đầu Cơ quan Y tế và Sinh học Liên bang Nga (FMBA) cho biết, vắc xin ung thư của Nga đã hoàn tất các thử nghiệm tiền lâm sàng, chứng minh tính an toàn và hiệu quả cao. “Trải qua nhiều năm nghiên cứu, trong đó 3 năm gần đây chúng tôi đã tập trung vào các nghiên cứu tiền lâm sàng bắt buộc… Vắc xin hiện đã sẵn sàng để sử dụng, chúng tôi đang chờ phê duyệt chính thức”, bà Veronika Skvortsova cho biết.   Theo đại diện của FMBA, kết quả tiền lâm sàng đã xác nhận tính an toàn của vắc xin, ngay cả khi tiêm nhắc lại, đồng thời mang lại hiệu quả đáng kể. Các nhà nghiên cứu đã ghi nhận kích thước khối u giảm và sự tiến triển của khối u chậm lại từ 60% đến 80%, tùy thuộc vào đặc điểm của bệnh lý. Ngoài ra, các nghiên cứu còn chỉ ra tỷ lệ sống sót tăng lên nhờ vắc xin. Diễn đàn Kinh tế Phương Đông (EEF) thứ 10 được tổ chức tại Vladivostok từ ngày 3 đến ngày 6/9 với chủ đề “Viễn Đông – Hợp tác vì Hòa bình và Thịnh vượng”. Chương trình bao gồm hơn 100 phiên họp chuyên đề, được chia thành bảy lĩnh vực. Diễn đàn đã quy tụ hơn 8.400 đại biểu đến từ hơn 75 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nguồn: https://tienphong.vn/nga-tuyen-bo-vac-xin-ung-thu-hoan-tat-thu-nghiem-tien-lam-sang-post1776245.tpo?gidzl=qkzx5ZAtkn3Lz7aLCgwv5zNoSXGfhxWMo_HyG2sgl476fdeG9_Be5SIj8n4lyhGIpQyZ63JIRVCoCRAw4m