SỨC KHOẺ: PHÒNG BỆNH HƠN CHỮA BỆNH

Khái niệm về sức khoẻ Theo Tổ chức Y tế thế giới thì “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”. Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là: Hoạt động thể lực, hình dáng, ăn, ngủ, tình dục,… tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi. Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là: Bình an trong tâm hồn, biết cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống. Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là: Nghề nghiệp với thu nhập đủ sống, an sinh xã hội được đảm bảo. Không có bệnh tật hay tàn phế là: Không có bệnh về thể chất, bệnh tâm thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội. Tổ chức Y tế thế giới quyết định lấy ngày 7 tháng 4 hàng năm, từ năm 1950 trở đi là ngày “Sức khoẻ thế giới” với mong muốn mọi tổ chức, cá nhân trên toàn cầu quan tâm đến sức khoẻ bản thân và cộng đồng. Có thể nói, sức khỏe là khoản đầu tư sinh lời cao và là trách nhiệm lớn nhất của mỗi con người. Chúng ta nói hay nhưng thường làm dở nên phải gánh bệnh tật cả đời. Tại sao chúng ta lại tiếc công sức và tiền của để phòng bệnh, để rồi sau đó phải hối hận vì phải chi một đống tiền với hi vọng chữa khỏi bệnh? Như vậy, chìa khoá vàng của việc chăm sóc và nâng cao sức khoẻ chính là chủ động: Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Tổ chức Y tế thế giới đã nghiên cứu, thống kê và chia ra 3 cấp độ về sức khoẻ: (1) Khoẻ mạnh; (2) Trung bình – Yếu và (3) Bệnh tật. Trong đó chỉ 5% là khoẻ mạnh thực sự, 80% nằm ở mức trung bình – yếu, còn lại là bệnh tật. Trong số 80% trung bình – yếu thì luôn cận kề với các nguy cơ, mầm mống của bệnh, tật và dịch bệnh, đặc biệt là các dịch bệnh hiện đại như: SARS 2003, cúm lợn H1N1 2009, MERS 2012 và SARS – CoV2 2019-2021… Tại điều 10 trong 14 điều răn của Đức Phật cũng nói: “Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe và trí tuệ”. Một người khỏe mạnh không ốm đau bệnh tật là ước mơ của biết bao con người. Khi chúng ta có một sức khỏe tốt, một tinh thần khỏe mạnh đó là điều kiện để chúng ta thực hiện những ước mơ, những hoài bão, những điều ý nghĩa trong cuộc sống. Nhưng khi một người không có sức khỏe thì ước mơ duy nhất của họ chỉ là có một sức khỏe tốt như người bình thường. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe Sức khỏe chịu tác động tổng hợp bởi các yếu tố thiên nhiên (vật lý, hóa học…), sinh học và kinh tế, xã hội… Sự thay đổi của môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường xã hội, gây ra những tác động xấu đến tâm lý, tình cảm của con người và là nguyên nhân gây ra bệnh lý. Những yếu tố có tính quyết định đến sức khỏe con người bao gồm: – Các yếu tố về di truyền: Các yếu tố sinh học quyết định cấu trúc và các hoạt động chức năng của cơ thể. Sự biến đổi bất thường trong cấu trúc của những đoạn gen nào đó có thể gây ra những bệnh tật tương ứng. Hiện nay, y học đã có thể sử dụng bản đồ gen làm công cụ chẩn đoán một số bệnh như: thiếu máu do hồng cầu hình liềm, bệnh xơ nang tụy, bệnh đái tháo đường (những bệnh có thể gây hậu quả xấu cho thế hệ sau)… Phần lớn các yếu tố gen thường không thể thay đổi được và đến nay, y học mới chỉ có thể can thiệp được ở mức hạn chế. – Yếu tố môi trường: Yếu tố môi trường đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định tình trạng sức khỏe của bất cứ một cộng đồng nào. Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường bao gồm: Môi trường xã hội, tổ chức xã hội, các nguồn lực;… Môi trường tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất nước, thiên tai, thảm họa. Môi trường sống, làm việc: tình trạng khó khăn về nhà ở, nơi làm việc, trong gia đình và cộng đồng dễ dẫn đến những vấn đề về sức khỏe tâm thần. Đường sá xuống cấp; lụt lội, bão, động đất, các thiên tai khác có thể gây tử vong hoặc thương tích cho con người. – Hệ thống chăm sóc sức khỏe: Chất lượng điều trị và chăm sóc, tình trạng thuốc men; khả năng tiếp cận với các dịch vụ của người dân (chi phí, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, thời gian chờ đợi…); thái độ và trình độ chuyên môn của cán bộ y tế có đáp ứng được yêu cầu không; tính chất của hệ thống chăm sóc sức khỏe (chăm sóc sức khỏe đặc biệt chuyên sâu, y tế nhà nước hay y tế tư nhân). Tình trạng sức khỏe cá nhân và cộng đồng tốt hay xấu phụ thuộc nhiều bởi tình trạng xấu hay tốt của những yếu tố trên thuộc hệ thống chăm sóc sức khỏe. – Yếu tố dinh dưỡng, hành vi và lối sống của con người: Dinh dưỡng hợp lý, khoa học là nền tảng tốt nhất cho sức khoẻ, tầm vóc và trí tuệ. Chế độ ăn dinh dưỡng và khoa học
Các thuốc hoá trị và thuốc đích điều trị bệnh Bạch Cầu Dòng Tủy Cấp Tính (Acute Myeloid Leukemia-AML)

AML là một dạng ung thư tiến triển nhanh, cấp tính của các tế bào tiền thân dòng tuỷ. Sự thay đổi trong các tế bào này ngăn cản quá trình biệt hoá thành tế bào máu trưởng thành của các nguyên tuỷ bào (tế bào non – tế bào blats). Điều này dẫn đến sự tích tụ của nguyên tuỷ bào trong tuỷ và máu, trong khi đó, không có đủ các tế bào hồng cầu, tiểu cầu và nhất là tế bào bạch cầu trưởng thành. Nếu không được điều trị, AML có thể gây tử vong. Hình 1. Quá trình phát triển của tế bào gốc tạo máu, biệt hoá thành các tế bào trưởng thành. Trong AML, quá trình biệt hoá, tăng sinh của nguyên tuỷ bào thành bạch cầu bị rối loạn. (Nguồn: Terese Winslow U.S. Govt) Các thuốc hoá trị Hoá trị liệu tiêu diệt các tế bào phát triển nhanh của cơ thể, bao gồm cả tế bào ung thư và tế bào bình thường. Các hoá trị trong điều trị AML chủ yếu tác dụng vào cấu trúc của gene, DNA làm gián đoạn chu kỳ sống của tế bào ung thư. Hoá trị sử dụng dạng tiêm truyền vào máu hoặc vào dịch tuỷ và thường được sử dụng theo chu kỳ. Có các nhóm hoá trị chính: Anthracyclines: trực tiếp phá huỷ và làm gián đoạn DNA. Một số anthracycline được dùng để điều trị AML, bao gồm daunorubicin, idarubicin, mitoxantrone. Ba thuốc này có thể gây tác dụng phụ trên tim mạch. Anti-metabolites: Ức chế các enzym hay các phản ứng cần thiết cho quá trình tổng hợp DNA. Một số anti-metabolites được dùng để điều trị AML, bao gồm cladribine, clofarabine, cyratabine, fludarabine, methotrexate. Hypomethylating agents (HMAs): ngăn chặn các nhóm methyl gắn kết với chuỗi DNA. Một số HMAs được dùng để điều trị AML, bao gồm decitabine và azacitidine. HMAs là lựa chọn tốt cho bệnh nhân lớn tuổi hoặc người có những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Có dạng bào chế kết hợp thuốc thuộc các nhóm thuốc trên. Ví dụ dạng thuốc kép liposome chứa daunorubicin và cytarabine (VyxeosTM, CPX-351) Thuốc điều trị đích Các thuốc điều trị đích tập trung vào các điểm đặc biệt của tế bào ung thư. Nguyên lý chế tạo của thuốc điều trị đích là tìm kiếm cơ chế tăng trưởng, nhân đôi, di căn trong cơ thể. Các thuốc này sẽ ngăn chặn, ức chế hoạt động của các phân tử, yếu tố hỗ trợ sự sinh trưởng và sống sót của tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với hoá trị liệu. Một số thuốc điều trị đích thường sử dụng trong điều trị AML, phân theo các đích tác dụng: Protein bề mặt tế bào CD33: Gemtuzumab ozogamicin (GO) là kết hợp giữa thuốc điều trị đích (gemtuzumab) và hoá trị (ozogamicin). Gemtuzumab nhận diện và gắn vào thụ thể CD33, và nhâm nhập vào trong tế bào. Ozogamicin được giải phóng, tiêu diệt, ngăn chặn quá trình sinh trưởng của tế bào. Các GO có thể gây tác dụng phụ lên gan. Đột biến FLT3: Gilteritinib được dùng điều trị AML với đột biến gene FLT3-ITD và FTL3-TKD tái phát hoặc kháng trị. Sorafenib được sử dụng phối hợp với azacitidine hoặc decitabine trong điều trị AML chứa đột biến gene FLT3-ITD. Đột biến IDH1 và IDH2: Ivosidenib dùng cho AML đột biến IDH1 tái phát hoặc kháng trị. Enasidenib dùng cho AML đột biến IDH2 tái phát hoặc kháng trị. Nguồn: National Comprehensive Cancer Network (NCCN) guideline for patient, AML, 2022.