16 Quần Ngựa, Phường Ngọc Hà, Hà Nội

Các thuốc hoá trị và thuốc đích điều trị bệnh Bạch Cầu Dòng Tủy Cấp Tính (Acute Myeloid Leukemia-AML)

AML là một dạng ung thư tiến triển nhanh, cấp tính của các tế bào tiền thân dòng tuỷ. Sự thay đổi trong các tế bào này ngăn cản quá trình biệt hoá thành tế bào máu trưởng thành của các nguyên tuỷ bào (tế bào non – tế bào blats). Điều này dẫn đến sự tích tụ của nguyên tuỷ bào trong tuỷ và máu, trong khi đó, không có đủ các tế bào hồng cầu, tiểu cầu và nhất là tế bào bạch cầu trưởng thành. Nếu không được điều trị, AML có thể gây tử vong.

Hình 1. Quá trình phát triển của tế bào gốc tạo máu, biệt hoá thành các tế bào trưởng thành. Trong AML, quá trình biệt hoá, tăng sinh của nguyên tuỷ bào thành bạch cầu bị rối loạn. (Nguồn: Terese Winslow U.S. Govt)

Các thuốc hoá trị

Hoá trị liệu tiêu diệt các tế bào phát triển nhanh của cơ thể, bao gồm cả tế bào ung thư và tế bào bình thường. Các hoá trị trong điều trị AML chủ yếu tác dụng vào cấu trúc của gene, DNA làm gián đoạn chu kỳ sống của tế bào ung thư. Hoá trị sử dụng dạng tiêm truyền vào máu hoặc vào dịch tuỷ và thường được sử dụng theo chu kỳ.

Có các nhóm hoá trị chính:

  • Anthracyclines: trực tiếp phá huỷ và làm gián đoạn DNA. Một số anthracycline được dùng để điều trị AML, bao gồm daunorubicin, idarubicin, mitoxantrone. Ba thuốc này có thể gây tác dụng phụ trên tim mạch.
  • Anti-metabolites: Ức chế các enzym hay các phản ứng cần thiết cho quá trình tổng hợp DNA. Một số anti-metabolites được dùng để điều trị AML, bao gồm cladribine, clofarabine, cyratabine, fludarabine, methotrexate.
  • Hypomethylating agents (HMAs): ngăn chặn các nhóm methyl gắn kết với chuỗi DNA. Một số HMAs được dùng để điều trị AML, bao gồm decitabine và azacitidine. HMAs là lựa chọn tốt cho bệnh nhân lớn tuổi hoặc người có những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng.

Có dạng bào chế kết hợp thuốc thuộc các nhóm thuốc trên. Ví dụ dạng thuốc kép liposome chứa daunorubicin và cytarabine (VyxeosTM, CPX-351)

Thuốc điều trị đích

Các thuốc điều trị đích tập trung vào các điểm đặc biệt của tế bào ung thư. Nguyên lý chế tạo của thuốc điều trị đích là tìm kiếm cơ chế tăng trưởng, nhân đôi, di căn trong cơ thể. Các thuốc này sẽ ngăn chặn, ức chế hoạt động của các phân tử, yếu tố hỗ trợ sự sinh trưởng và sống sót của tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với hoá trị liệu.

Một số thuốc điều trị đích thường sử dụng trong điều trị AML, phân theo các đích tác dụng:

  • Protein bề mặt tế bào CD33: Gemtuzumab ozogamicin (GO) là kết hợp giữa thuốc điều trị đích (gemtuzumab) và hoá trị (ozogamicin). Gemtuzumab nhận diện và gắn vào thụ thể CD33, và nhâm nhập vào trong tế bào. Ozogamicin được giải phóng, tiêu diệt, ngăn chặn quá trình sinh trưởng của tế bào. Các GO có thể gây tác dụng phụ lên gan.
  • Đột biến FLT3: Gilteritinib được dùng điều trị AML với đột biến gene FLT3-ITD và FTL3-TKD tái phát hoặc kháng trị. Sorafenib được sử dụng phối hợp với azacitidine hoặc decitabine trong điều trị AML chứa đột biến gene FLT3-ITD.
  • Đột biến IDH1 và IDH2: Ivosidenib dùng cho AML đột biến IDH1 tái phát hoặc kháng trị. Enasidenib dùng cho AML đột biến IDH2 tái phát hoặc kháng trị.

Nguồn: National Comprehensive Cancer Network (NCCN) guideline for patient, AML, 2022.

Share the Post:

Related Posts