16 Quần Ngựa, Phường Ngọc Hà, Hà Nội

TÍNH CẦN THIẾT CỦA VIỆC THỬ NGHIỆM HIỆU QUẢ, CÔNG DỤNG THỰC PHẨM BẢO VỆ SỨC KHOẺ

Việc tiến hành thử nghiệm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ (TPBVSK) (bao gồm phẩm thực phẩm bổ sung, thực phẩm dành cho đối tượng có chế độ dinh dưỡng đặc biệt,…) ở Việt Nam hiện nay đang trở nên cần thiết, đặc biệt trong thời kỳ có rất nhiều TPBVSK với những công dụng được công bố vượt quá tác dụng thực sự, có thể gây hiểu lầm cho người sử dụng và gây mất uy tính cho doanh nghiệp. Tồn tại một vấn đề bất cập là đa số các TPBVSK thiếu những bằng chứng, nghiên cứu thực tế chứng minh tính hiệu quả và xác nhận lợi ích trên lâm sàng. Việc công bố công dụng các sản phẩm TPBVSK hiện nay hầu như chỉ dựa trên những công dụng đã công bố của nguyên liệu trong sản phẩm chứ chưa có nghiên cứu đánh giá tác dụng cụ thể. Đó là điểm yếu của ngành TPBVSK Việt Nam khi cạnh tranh với thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, đã có nhiều năm nghiên cứu, sản xuất và sử dụng TPBVSK như Mỹ, Nhật… Trong bối cảnh kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu chăm sóc sức khoẻ và kiến thức của người dân ngày càng cao. Trước khi quyết định chọn mua và sử dụng TPBVSK, người tiêu dùng sẽ đặt ra những câu hỏi, trong đó quan trọng hàng đầu là “hiệu quả của sản phẩm ra sao, có nghiên cứu nào xác nhận lợi ích này không?”. Do vậy, đưa các TPBVSK vào nghiên cứu thử nghiệm hiệu quả trên người là việc làm hết sức cần thiết. Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn xây dựng và thiết lập mạng lưới thử nghiệm lâm sàng dược phẩm, TPBVSK, tạo hành lang pháp lý để người sử dụng được tiếp cận với những sản phẩm mới hiệu quả và an toàn. Tại Điều 4, thông tư 43/2014/TT-BYT Hướng dẫn Quản lý Thực phẩm chức năng, Bộ Y tế có nhấn mạnh đến việc thử nghiệm hiệu quả về công dụng đối với sức khoẻ con người của TPBVSK: “Sản phẩm phải thử nghiệm hiệu quả về công dụng đối với sức khỏe con người bao gồm: a) Sản phẩm công bố khuyến cáo có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh; b) Sản phẩm công bố công dụng mới chưa được công nhận tại các quốc gia khác trên thế giới; c) Sản phẩm có chứa hoạt chất mới chưa được cho phép sử dụng; d) Sản phẩm bảo vệ sức khỏe có công thức khác với sản phẩm đã có bằng chứng khoa học chứng minh, lần đầu tiên đưa ra lưu thông trên thị trường; đ) Sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, động vật lần đầu tiên đưa ra thị trường có thành phần cấu tạo khác với thành phần cấu tạo của các sản phẩm y học cổ truyền cổ phương, cổ phương gia giảm đã được đăng tải trên các tạp chí khoa học; e) Thực phẩm dinh dưỡng y học và thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt chưa được cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan được ủy quyền hoặc pháp luật của nước xuất xứ cho phép, nước xuất khẩu xác nhận về công dụng, đối tượng sử dụng và cách dùng được phép ghi trên nhãn hàng hóa.” Các thử nghiệm sẽ cung cấp những bằng chứng khoa học mang tính chính xác, đảm bảo yếu tố pháp lý để một sản phẩm TPBVSK có thể phát huy tối đa tác dụng của nó đối với sức khỏe con người trong việc phòng ngừa phát/tái phát các căn bệnh mạn tính không lây, hỗ trợ điều trị bệnh hiệu quả, hồi phục và nâng cao sức khoẻ. Theo Ds. Hoàng Thu Huyển

25% người Việt trưởng thành bị tăng huyết áp

25% người Việt trưởng thành bị tăng huyết áp, tức cứ 4 người trưởng thành thì một mắc bệnh này song ít ai đo thường xuyên, theo thống kê của Viện Tim mạch Quốc gia.   “Có nhiều người vào viện cấp cứu do bệnh tim mạch thú nhận là chưa bao giờ đo huyết áp”, giáo sư Nguyễn Lân Việt, Phó chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam nói tại họp báo về Đại hội tim mạch lần thứ 18, hôm 5/10. Ông cho biết tăng huyết áp làm tăng gấp 4 lần nguy cơ tử vong do đột quỵ và tăng gấp 3 lần nguy cơ tử vong do bệnh lý tim mạch, so với người không mắc bệnh.   Ông Việt khuyến cáo để chẩn đoán bệnh, cách đơn giản nhất là đo huyết áp thường xuyên và chủ động để kiểm soát nó. Đồng thời, mọi người nên kiểm tra sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần để phát hiện sớm những bất thường cơ thể và kịp thời điều trị.   Mô hình bệnh tật của Việt Nam hiện có nhiều thay đổi. Các bệnh không lây nhiễm có khuynh hướng tăng, trong khi bệnh lây nhiễm giảm. Trong đó, 4 bệnh không lây nhiễm chính đang gia tăng và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu gồm tim mạch, đái tháo đường, ung thư và rối loạn tâm thần.   Tại Việt Nam, năm 1970 khoảng 2% người lớn bị tăng huyết áp. Đến nay, nghiên cứu dịch tễ học của Viện Tim mạch Quốc gia cho thấy 25% người trưởng thành mắc bệnh tăng huyết áp, có những nơi tỷ lệ này lên đến 40%. Bệnh tăng huyết áp rất phổ biến song nhiều người còn thờ ơ, chủ quan, không quan tâm, không kiểm soát, điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ. Trong khi đó, đây là một bệnh tiến triển thầm lặng và tiềm ẩn rất nhiều biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là bệnh tim mạch, theo các bác sĩ.   Phó giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Viện trưởng Tim mạch Việt Nam, cho rằng người dân chưa thực sự quan tâm đến huyết áp của mình, đặc biệt không có thói quen kiểm tra sức khỏe định kỳ. Trong số những người bị tăng huyết áp thì một nửa không biết mình mắc bệnh. Khi biết bệnh rồi, thì 1/3 trong số đó không điều trị.   “Trong số những người điều trị thì 64% không đạt được huyết áp mục tiêu là dưới 140/90 mmHg”, ông Hùng nói và thêm rằng tăng huyết áp dẫn đến biến chứng nặng nề như đột quỵ, suy tim, giảm thị lực, mù lòa, suy thận… Nguyên nhân tăng huyết áp liên quan nhiều đến dinh dưỡng, lối sống. Người dân ăn uống thoải mái hơn, tỷ lệ béo phì tăng lên. Hút thuốc lá, thuốc lào, uống bia rượu… là nguyên nhân dẫn tới tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, xơ vữa động mạch. Bên cạnh đó, sức ép và áp lực công việc của lối sống hiện đại khiến con người căng thẳng, gây bệnh tật.   Các chuyên gia đánh giá số người được chẩn đoán bệnh tăng huyết áp vẫn còn thấp hơn thực tế, người được điều trị còn ít, bệnh nhân được điều trị đúng cách cũng không nhiều. Gánh nặng về bệnh tật và tử vong do tăng huyết áp trở thành một vấn đề cấp bách hiện nay, đòi hỏi cần chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời, đầy đủ.   Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp là điều chỉnh lối sống như giảm béo phì, giảm muối, hạn chế thức ăn nhiều cholesterone, acid béo no, hạn chế rượu bia, bỏ thuốc lá. Tăng cường hoạt động thể lực ở mức phù hợp, tránh căng thẳng thần kinh. Ngoài ra, người bệnh cần lựa chọn loại thuốc hạ áp phù hợp, có chỉ định của bác sĩ; chỉ số huyết áp cần hạ từ từ, tránh hạ quá nhanh; quá trình điều trị cần liên tục, lâu dài.

Công văn khẩn tăng cường phòng chống bệnh Đậu mùa khỉ

Ngày 03/10/2022, Bộ Y tế đã gửi Công văn khẩn số 5470/BYT-DP đến Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc tăng cường phòng chống bệnh Đậu mùa khỉ. Theo đó, Bộ Y tế nhận định từ tháng 5/2022 đến nay, dịch bệnh Đậu mùa khỉ đã gia tăng liên tục cả về số ca mắc và số quốc gia, vùng lãnh thổ ghi nhận ca bệnh. Ngày 23/7/2022, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố dịch bệnh này là tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng quốc tế. Đến ngày 26/9/2022, thế giới nghi nhận 64.561 trường hợp mắc bệnh Đậu mùa khỉ tại 105 nước trên thế giới. Trong đó, khu vực Tây Thái Bình Dương có một số nước ghi nhận ca bệnh gồm: Australia (132), Singapore (19), Trung Quốc (5), New Zealand (5), Nhật Bản (4), Philippines (4), Hàn Quốc (2), Guam (1), New Caledonia (1). Trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Đậu mùa khỉ trên thế giới và tại một số nước khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam; để chủ động giám sát, phát hiện sớm các trường hợp bệnh, kiểm soát dịch kịp thời không để bùng phát dịch bệnh Đậu mùa khỉ, dịch chồng dịch, hạn chế tối đa số mắc và tử vong, Bộ Y tế đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quan tâm chỉ đạo triển khai ngay một số hoạt động sau: Chỉ đạo các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị trên địa bàn thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 680/CĐ-TTg ngày 01/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác phòng chống bệnh Đậu mùa khỉ và các hướng dẫn của Bộ Y tế: giám sát và phòng, chống bệnh Đậu mùa khỉ; chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh đậu mùa khỉ ở người; phòng ngừa lây nhiễm bệnh đậu mùa khỉ trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bệnh Đậu mùa khỉ. Chuẩn bị sẵn sàng công tác phòng, chống dịch tại địa phương: – Đẩy mạnh việc thực hiện nghiêm giám sát dịch bệnh tại các cửa khẩu, giám sát tại các cơ sở khám chữa bệnh và giám sát dựa vào sự kiện tại cộng đồng để phát hiện sớm, ngăn chặn dịch bệnh kịp thời. – Tổ chức tập huấn cho cán bộ y tế các tuyến; – Đảm bảo việc thu dung, phân luồng, điều trị người bệnh tại các cơ sở khám, chữa bệnh và phòng chống lây nhiễm tại các cơ sở xét nghiệm, y tế; – Rà soát cập nhật kế hoạch, kịch bản đáp ứng, diễn tập theo các tình huống để sẵn sàng đáp ứng trong trường hợp dịch bệnh xảy; – Sẵn sàng thuốc, trang thiết bị, nhân lực, kinh phí. Khi ghi nhận trường hợp bệnh: – Khẩn trương thực hiện điều tra kỹ tất cả các trường hợp tiếp xúc với trường hợp dương tính với Đậu mùa khỉ để xác định nguồn lây nhiễm; quản lý, xử lý kịp thời ổ dịch không để dịch lây lan rộng ra cộng đồng. – Tổ chức cách ly, điều trị trường hợp dương tính, tránh tử vong, lưu ý không để xảy ra lây nhiễm chéo, lây nhiễm đối với nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc, điều trị. Đẩy mạnh truyền thông minh bạch, bằng nhiều hình thức cho người dân về các biện pháp dự phòng dịch bệnh tại các cửa khẩu, cộng đồng về dịch bệnh Đậu mùa khỉ theo khuyến cáo của Bộ Y tế. Nghiêm túc thực hiện công tác thông tin, báo cáo theo quy định.   Theo Bộ Y tế

Bệnh đậu mùa khỉ

Tổng quan Bệnh đậu mùa khỉ là bệnh do vi rút đậu mùa khỉ gây ra. Đây là bệnh truyền nhiễm từ động vật do vi rút, tức là bệnh có thể lây truyền từ động vật sang người. Bệnh cũng có thể lây truyền từ người sang người. Vi rút đậu mùa khỉ là một loại orthopoxvirus, gây bệnh có các triệu chứng tương tự như bệnh đậu mùa nhưng ít nghiêm trọng hơn. Trong khi bệnh đậu mùa đã được xóa sổ vào năm 1980, bệnh đậu mùa ở khỉ vẫn tiếp tục xảy ra ở các nước Trung và Tây Phi. Hai nhánh riêng biệt được xác định là nhánh Tây Phi và nhánh lưu vực Congo (còn được gọi là nhánh Trung Phi). Bệnh đậu mùa ở khỉ là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Các trường hợp mắc bệnh thường được tìm thấy gần các khu rừng mưa nhiệt đới, nơi có nhiều động vật mang vi rút. Bằng chứng về sự lây nhiễm vi rút đậu mùa ở khỉ đã được tìm thấy ở các loài động vật như sóc, chuột túi Gambian, chuột sóc, các loài khỉ và những loài khác. Sự lây truyền từ người sang người có giới hạn, với chuỗi truyền bệnh dài nhất được ghi nhận là 6 lần lây, có nghĩa là người cuối cùng bị nhiễm bệnh trong chuỗi này cách người bệnh ban đầu 6 mắt xích. Bệnh có thể lây truyền qua tiếp xúc với chất dịch cơ thể, tổn thương trên bề mặt da hoặc niêm mạc, chẳng hạn như trong miệng hoặc cổ họng, các giọt bắn và các vật bị ô nhiễm. Xét nghiệm chủ yếu để phát hiện bệnh đậu mùa khỉ là phản ứng chuỗi polymerase (PCR) phát hiện DNA của vi rút. Các mẫu chẩn đoán tốt nhất là mẫu lấy trực tiếp từ nốt ngoài da, dịch, lớp vảy, hoặc sinh thiết nếu có thể. Các phương pháp phát hiện kháng nguyên và kháng thể có thể không hữu ích vì không phân biệt được các loại orthopoxvirus. Triệu chứng Bệnh đậu mùa khỉ có biểu hiện sốt, phát ban đặc trưng lan rộng và thường sưng hạch bạch huyết. Điều quan trọng là phải phân biệt bệnh đậu khỉ với các bệnh khác như bệnh thủy đậu, bệnh sởi, nhiễm trùng da do vi khuẩn, bệnh ghẻ, bệnh giang mai và dị ứng do thuốc. Thời gian ủ bệnh của bệnh đậu mùa khỉ có thể từ 5 đến 21 ngày. Giai đoạn sốt thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày với các triệu chứng bao gồm sốt, nhức đầu dữ dội, nổi hạch (sưng hạch bạch huyết), đau lưng, đau cơ và suy nhược dữ dội (thiếu năng lượng). Giai đoạn sốt tiếp theo là giai đoạn phát ban trên da, kéo dài từ 2 đến 4 tuần. Tổn thương phát triển từ dát (tổn thương có nền phẳng) thành sẩn (tổn thương cứng nổi lên) đến mụn nước (chứa đầy dịch trong) đến mụn mủ (chứa đầy mủ), sau đó là vảy tiết hoặc đóng vảy. Tỷ lệ bệnh nhân tử vong dao động từ 0 đến 11% trong các ca được ghi nhận và cao hơn ở trẻ nhỏ. Phòng ngừa và điều trị Điều trị bệnh nhân đậu mùa khỉ chủ yếu là điều trị triệu chứng. Các thuốc có hiệu quả chống lại sự lây nhiễm của virus đậu mùa khỉ đang được phát triển và thử nghiệm. Hiện nay, chưa có phác đồ đặc trị, đa số bệnh nhân sẽ được sử dụng thuốc có khả năng kháng vi rút, như cidofovir, tecovirimat hoặc brincidofovir,… Việc chủng ngừa bệnh đậu mùa bằng vắc xin đậu mùa thế hệ đầu tiên đã được chứng minh là có hiệu quả 85% trong việc ngăn ngừa bệnh đậu mùa khỉ trước đây. Những người đã được tiêm phòng bệnh đậu mùa khi còn nhỏ có thể còn một số hiệu quả bảo vệ chống lại bệnh đậu mùa ở khỉ. Phòng ngừa và kiểm soát bệnh đậu mùa ở người dựa vào việc nâng cao nhận thức trong cộng đồng và giáo dục nhân viên y tế để ngăn chặn lây truyền. Hầu hết các ca nhiễm bệnh đậu mùa ở người là do lây truyền chính từ động vật sang người. Cần tránh tiếp xúc với động vật ốm hoặc chết. Tất cả các thực phẩm có chứa thịt hoặc các bộ phận của động vật cần được nấu chín kỹ trước khi ăn. Cần tránh tiếp xúc gần với những người bị nhiễm bệnh hoặc các vật dụng của bệnh nhân. Nên mang găng tay và các trang thiết bị và quần áo bảo hộ cá nhân khác khi chăm sóc người bệnh, dù ở cơ sở y tế hay tại nhà.   Theo Tổ chức Y tế Thế giới  

Tiếp cận thử nghiệm lâm sàng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình

Gánh nặng ung thư toàn cầu được ước tính khoảng hơn 20 triệu ca vào năm 2030, hầu hết đều xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (LMICs). LMICs chiếm 64% số ca tử vong do ung thư toàn cầu và 80% số năm tuổi thọ bị mất đi (life-years lost) do tàn tật. Mặc dù vậy, chỉ 5% nguồn lực ung thư toàn cầu được sử dụng cho các LMICs gây ra tỷ lệ tử vong trên thu nhập (mortality-to-income ratio) cao. Mặc dù số lượng các thử nghiệm lâm sàng được thực hiện ở các nước có thu nhập cao ngày càng tăng mạnh, nhưng vẫn có một số lý do để tiến hành các thử nghiệm lâm sàng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. – Ưu điểm: + Mẫu bệnh nhân lớn với đa dạng thể bệnh; + Nhân lực được đào tạo; + Thị phần lớn cho ngành dược phẩm; + Tăng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm ở cả khu vực công và khu vực tư nhân; + FDA đã phê duyệt các cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP của WHO; + Những hỗ trợ về công nghệ thông tin; + Sự tham gia của DCGI (The Drug Controller General of India) / SEC (Subject Expert Committee)/ CDSCO (Central Drugs Standard Control Organization) với các bên liên quan. – Hạn chế: + Thiếu các trung tâm xuất sắc; + Thiếu minh bạch; + Thiếu trách nhiệm giải trình. – Cơ hội: + Tăng cường các tổ chức học thuật hiện có và trao quyền cho các nghiên cứu hàn lâm; + Thành lập một cơ quan trung ương như Viện Quốc gia về Nghiên cứu Sức khỏe và Chăm sóc (NIHR – National Institute for Health and Care Research) ở Anh để phê duyệt thử nghiệm và tài trợ nghiên cứu ở nước ngoài; + Giám sát từ ủy ban đạo đức trung ương; + Hợp tác công tư lành mạnh. – Thách thức: + Thiếu kinh phí; + Các khía cạnh văn hóa trong thử nghiệm lâm sàng; + Truyền thông quá mức; + Phê duyệt chậm trễ; + Thủ tục hành chính rườm rà; Để đảm bảo tiến bộ thực sự trong bối cảnh thử nghiệm lâm sàng ở LMIC, việc hoạch định chính sách linh động theo khu vực là điều cần thiết. Tính hiệu quả trong chính phủ, giới học thuật và ngành  công nghiệp dược phẩm; với các cơ hội tài trợ và khuyến khích được cải thiện cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển. Giáo dục về khoa học cho công chúng và truyền thông, đồng thời tăng cường đào tạo nghiên cứu giữa các LMIC có thể đem tới lợi ích về lâu dài. Cuối cùng, việc tăng cường hợp tác không chỉ giữa các chuyên gia mà còn trao quyền cho bệnh nhân với tư cách là các bên liên quan quan trọng sẽ là yếu tố cần thiết cho sự tiến bộ trong các thử nghiệm lâm sàng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình.   Nguồn: Aakash Desai, Bhawna Sirohi & Aju Mathew (2021) Tiếp cận thử nghiệm lâm sàng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình: Nghiên cứu điển hình về Ấn Độ, Điều tra ung thư, 39: 9, 685-689

SỨC KHOẺ: PHÒNG BỆNH HƠN CHỮA BỆNH

Khái niệm về sức khoẻ Theo Tổ chức Y tế thế giới thì “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”. Hoàn toàn thoải mái về mặt thể chất là: Hoạt động thể lực, hình dáng, ăn, ngủ, tình dục,… tất cả các hoạt động sống trên đều ở trạng thái tốt nhất phù hợp với từng lứa tuổi. Hoàn toàn thoải mái về mặt tâm thần là: Bình an trong tâm hồn, biết cách chấp nhận và đương đầu với các căng thẳng trong cuộc sống. Hoàn toàn thoải mái về mặt xã hội là: Nghề nghiệp với thu nhập đủ sống, an sinh xã hội được đảm bảo. Không có bệnh tật hay tàn phế là: Không có bệnh về thể chất, bệnh tâm thần, bệnh liên quan đến xã hội và sự an toàn về mặt xã hội. Tổ chức Y tế thế giới quyết định lấy ngày 7 tháng 4 hàng năm, từ năm 1950 trở đi là ngày “Sức khoẻ thế giới” với mong muốn mọi tổ chức, cá nhân trên toàn cầu quan tâm đến sức khoẻ bản thân và cộng đồng. Có thể nói, sức khỏe là khoản đầu tư sinh lời cao và là trách nhiệm lớn nhất của mỗi con người. Chúng ta nói hay nhưng thường làm dở nên phải gánh bệnh tật cả đời. Tại sao chúng ta lại tiếc công sức và tiền của để phòng bệnh, để rồi sau đó phải hối hận vì phải chi một đống tiền với hi vọng chữa khỏi bệnh? Như vậy, chìa khoá vàng của việc chăm sóc và nâng cao sức khoẻ chính là chủ động: Phòng bệnh hơn chữa bệnh.           Tổ chức Y tế thế giới đã nghiên cứu, thống kê và chia ra 3 cấp độ về sức khoẻ: (1) Khoẻ mạnh; (2) Trung bình – Yếu và (3) Bệnh tật. Trong đó chỉ 5% là khoẻ mạnh thực sự, 80% nằm ở mức trung bình – yếu, còn lại là bệnh tật. Trong số 80% trung bình – yếu thì luôn cận kề với các nguy cơ, mầm mống của bệnh, tật và dịch bệnh, đặc biệt là các dịch bệnh hiện đại như: SARS 2003, cúm lợn H1N1 2009, MERS 2012 và SARS – CoV2 2019-2021… Tại điều 10 trong 14 điều răn của Đức Phật cũng nói: “Tài sản lớn nhất của đời người là sức khỏe và trí tuệ”. Một người khỏe mạnh không ốm đau bệnh tật là ước mơ của biết bao con người. Khi chúng ta có một sức khỏe tốt, một tinh thần khỏe mạnh đó là điều kiện để chúng ta thực hiện những ước mơ, những hoài bão, những điều ý nghĩa trong cuộc sống. Nhưng khi một người không có sức khỏe thì ước mơ duy nhất của họ chỉ là có một sức khỏe tốt như người bình thường.   Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe Sức khỏe chịu tác động tổng hợp bởi các yếu tố thiên nhiên (vật lý, hóa học…), sinh học và kinh tế, xã hội… Sự thay đổi của môi trường sinh thái, đặc biệt là môi trường xã hội, gây ra những tác động xấu đến tâm lý, tình cảm của con người và là nguyên nhân gây ra bệnh lý. Những yếu tố có tính quyết định đến sức khỏe con người bao gồm: – Các yếu tố về di truyền: Các yếu tố sinh học quyết định cấu trúc và các hoạt động chức năng của cơ thể. Sự biến đổi bất thường trong cấu trúc của những đoạn gen nào đó có thể gây ra những bệnh tật tương ứng. Hiện nay, y học đã có thể sử dụng bản đồ gen làm công cụ chẩn đoán một số bệnh như: thiếu máu do hồng cầu hình liềm, bệnh xơ nang tụy, bệnh đái tháo đường (những bệnh có thể gây hậu quả xấu cho thế hệ sau)… Phần lớn các yếu tố gen thường không thể thay đổi được và đến nay, y học mới chỉ có thể can thiệp được ở mức hạn chế. – Yếu tố môi trường: Yếu tố môi trường đã, đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định tình trạng sức khỏe của bất cứ một cộng đồng nào. Hiểu theo nghĩa rộng, môi trường bao gồm: Môi trường xã hội, tổ chức xã hội, các nguồn lực;… Môi trường tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất nước, thiên tai, thảm họa. Môi trường sống, làm việc: tình trạng khó khăn về nhà ở, nơi làm việc, trong gia đình và cộng đồng dễ dẫn đến những vấn đề về sức khỏe tâm thần. Đường sá xuống cấp; lụt lội, bão, động đất, các thiên tai khác có thể gây tử vong hoặc thương tích cho con người. – Hệ thống chăm sóc sức khỏe: Chất lượng điều trị và chăm sóc, tình trạng thuốc men; khả năng tiếp cận với các dịch vụ của người dân (chi phí, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, thời gian chờ đợi…); thái độ và trình độ chuyên môn của cán bộ y tế có đáp ứng được yêu cầu không; tính chất của hệ thống chăm sóc sức khỏe (chăm sóc sức khỏe đặc biệt chuyên sâu, y tế nhà nước hay y tế tư nhân). Tình trạng sức khỏe cá nhân và cộng đồng tốt hay xấu phụ thuộc nhiều bởi tình trạng xấu hay tốt của những yếu tố trên thuộc hệ thống chăm sóc sức khỏe. – Yếu tố dinh dưỡng, hành vi và lối sống của con người: Dinh dưỡng hợp lý, khoa học là nền tảng tốt nhất cho sức khoẻ, tầm vóc và trí tuệ. Chế độ ăn dinh dưỡng và khoa học

Các thuốc hoá trị và thuốc đích điều trị bệnh Bạch Cầu Dòng Tủy Cấp Tính (Acute Myeloid Leukemia-AML)

AML là một dạng ung thư tiến triển nhanh, cấp tính của các tế bào tiền thân dòng tuỷ. Sự thay đổi trong các tế bào này ngăn cản quá trình biệt hoá thành tế bào máu trưởng thành của các nguyên tuỷ bào (tế bào non – tế bào blats). Điều này dẫn đến sự tích tụ của nguyên tuỷ bào trong tuỷ và máu, trong khi đó, không có đủ các tế bào hồng cầu, tiểu cầu và nhất là tế bào bạch cầu trưởng thành. Nếu không được điều trị, AML có thể gây tử vong. Hình 1. Quá trình phát triển của tế bào gốc tạo máu, biệt hoá thành các tế bào trưởng thành. Trong AML, quá trình biệt hoá, tăng sinh của nguyên tuỷ bào thành bạch cầu bị rối loạn. (Nguồn: Terese Winslow U.S. Govt) Các thuốc hoá trị Hoá trị liệu tiêu diệt các tế bào phát triển nhanh của cơ thể, bao gồm cả tế bào ung thư và tế bào bình thường. Các hoá trị trong điều trị AML chủ yếu tác dụng vào cấu trúc của gene, DNA làm gián đoạn chu kỳ sống của tế bào ung thư. Hoá trị sử dụng dạng tiêm truyền vào máu hoặc vào dịch tuỷ và thường được sử dụng theo chu kỳ. Có các nhóm hoá trị chính: Anthracyclines: trực tiếp phá huỷ và làm gián đoạn DNA. Một số anthracycline được dùng để điều trị AML, bao gồm daunorubicin, idarubicin, mitoxantrone. Ba thuốc này có thể gây tác dụng phụ trên tim mạch. Anti-metabolites: Ức chế các enzym hay các phản ứng cần thiết cho quá trình tổng hợp DNA. Một số anti-metabolites được dùng để điều trị AML, bao gồm cladribine, clofarabine, cyratabine, fludarabine, methotrexate. Hypomethylating agents (HMAs): ngăn chặn các nhóm methyl gắn kết với chuỗi DNA. Một số HMAs được dùng để điều trị AML, bao gồm decitabine và azacitidine. HMAs là lựa chọn tốt cho bệnh nhân lớn tuổi hoặc người có những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng. Có dạng bào chế kết hợp thuốc thuộc các nhóm thuốc trên. Ví dụ dạng thuốc kép liposome chứa daunorubicin và cytarabine (VyxeosTM, CPX-351) Thuốc điều trị đích Các thuốc điều trị đích tập trung vào các điểm đặc biệt của tế bào ung thư. Nguyên lý chế tạo của thuốc điều trị đích là tìm kiếm cơ chế tăng trưởng, nhân đôi, di căn trong cơ thể. Các thuốc này sẽ ngăn chặn, ức chế hoạt động của các phân tử, yếu tố hỗ trợ sự sinh trưởng và sống sót của tế bào ung thư. Các thuốc điều trị đích có thể dùng đơn trị liệu hoặc phối hợp với hoá trị liệu. Một số thuốc điều trị đích thường sử dụng trong điều trị AML, phân theo các đích tác dụng: Protein bề mặt tế bào CD33: Gemtuzumab ozogamicin (GO) là kết hợp giữa thuốc điều trị đích (gemtuzumab) và hoá trị (ozogamicin). Gemtuzumab nhận diện và gắn vào thụ thể CD33, và nhâm nhập vào trong tế bào. Ozogamicin được giải phóng, tiêu diệt, ngăn chặn quá trình sinh trưởng của tế bào. Các GO có thể gây tác dụng phụ lên gan. Đột biến FLT3: Gilteritinib được dùng điều trị AML với đột biến gene FLT3-ITD và FTL3-TKD tái phát hoặc kháng trị. Sorafenib được sử dụng phối hợp với azacitidine hoặc decitabine trong điều trị AML chứa đột biến gene FLT3-ITD. Đột biến IDH1 và IDH2: Ivosidenib dùng cho AML đột biến IDH1 tái phát hoặc kháng trị. Enasidenib dùng cho AML đột biến IDH2 tái phát hoặc kháng trị. Nguồn: National Comprehensive Cancer Network (NCCN) guideline for patient, AML, 2022.