Tổng quan
Bệnh đậu mùa khỉ là bệnh do vi rút đậu mùa khỉ gây ra. Đây là bệnh truyền nhiễm từ động vật do vi rút, tức là bệnh có thể lây truyền từ động vật sang người. Bệnh cũng có thể lây truyền từ người sang người. Vi rút đậu mùa khỉ là một loại orthopoxvirus, gây bệnh có các triệu chứng tương tự như bệnh đậu mùa nhưng ít nghiêm trọng hơn. Trong khi bệnh đậu mùa đã được xóa sổ vào năm 1980, bệnh đậu mùa ở khỉ vẫn tiếp tục xảy ra ở các nước Trung và Tây Phi. Hai nhánh riêng biệt được xác định là nhánh Tây Phi và nhánh lưu vực Congo (còn được gọi là nhánh Trung Phi).
Bệnh đậu mùa ở khỉ là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Các trường hợp mắc bệnh thường được tìm thấy gần các khu rừng mưa nhiệt đới, nơi có nhiều động vật mang vi rút. Bằng chứng về sự lây nhiễm vi rút đậu mùa ở khỉ đã được tìm thấy ở các loài động vật như sóc, chuột túi Gambian, chuột sóc, các loài khỉ và những loài khác.
Sự lây truyền từ người sang người có giới hạn, với chuỗi truyền bệnh dài nhất được ghi nhận là 6 lần lây, có nghĩa là người cuối cùng bị nhiễm bệnh trong chuỗi này cách người bệnh ban đầu 6 mắt xích. Bệnh có thể lây truyền qua tiếp xúc với chất dịch cơ thể, tổn thương trên bề mặt da hoặc niêm mạc, chẳng hạn như trong miệng hoặc cổ họng, các giọt bắn và các vật bị ô nhiễm.
Xét nghiệm chủ yếu để phát hiện bệnh đậu mùa khỉ là phản ứng chuỗi polymerase (PCR) phát hiện DNA của vi rút. Các mẫu chẩn đoán tốt nhất là mẫu lấy trực tiếp từ nốt ngoài da, dịch, lớp vảy, hoặc sinh thiết nếu có thể. Các phương pháp phát hiện kháng nguyên và kháng thể có thể không hữu ích vì không phân biệt được các loại orthopoxvirus.
Triệu chứng
Bệnh đậu mùa khỉ có biểu hiện sốt, phát ban đặc trưng lan rộng và thường sưng hạch bạch huyết. Điều quan trọng là phải phân biệt bệnh đậu khỉ với các bệnh khác như bệnh thủy đậu, bệnh sởi, nhiễm trùng da do vi khuẩn, bệnh ghẻ, bệnh giang mai và dị ứng do thuốc.
Thời gian ủ bệnh của bệnh đậu mùa khỉ có thể từ 5 đến 21 ngày. Giai đoạn sốt thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày với các triệu chứng bao gồm sốt, nhức đầu dữ dội, nổi hạch (sưng hạch bạch huyết), đau lưng, đau cơ và suy nhược dữ dội (thiếu năng lượng). Giai đoạn sốt tiếp theo là giai đoạn phát ban trên da, kéo dài từ 2 đến 4 tuần. Tổn thương phát triển từ dát (tổn thương có nền phẳng) thành sẩn (tổn thương cứng nổi lên) đến mụn nước (chứa đầy dịch trong) đến mụn mủ (chứa đầy mủ), sau đó là vảy tiết hoặc đóng vảy.
Tỷ lệ bệnh nhân tử vong dao động từ 0 đến 11% trong các ca được ghi nhận và cao hơn ở trẻ nhỏ.
Phòng ngừa và điều trị
Điều trị bệnh nhân đậu mùa khỉ chủ yếu là điều trị triệu chứng. Các thuốc có hiệu quả chống lại sự lây nhiễm của virus đậu mùa khỉ đang được phát triển và thử nghiệm. Hiện nay, chưa có phác đồ đặc trị, đa số bệnh nhân sẽ được sử dụng thuốc có khả năng kháng vi rút, như cidofovir, tecovirimat hoặc brincidofovir,…
Việc chủng ngừa bệnh đậu mùa bằng vắc xin đậu mùa thế hệ đầu tiên đã được chứng minh là có hiệu quả 85% trong việc ngăn ngừa bệnh đậu mùa khỉ trước đây. Những người đã được tiêm phòng bệnh đậu mùa khi còn nhỏ có thể còn một số hiệu quả bảo vệ chống lại bệnh đậu mùa ở khỉ.
Phòng ngừa và kiểm soát bệnh đậu mùa ở người dựa vào việc nâng cao nhận thức trong cộng đồng và giáo dục nhân viên y tế để ngăn chặn lây truyền.
Hầu hết các ca nhiễm bệnh đậu mùa ở người là do lây truyền chính từ động vật sang người. Cần tránh tiếp xúc với động vật ốm hoặc chết. Tất cả các thực phẩm có chứa thịt hoặc các bộ phận của động vật cần được nấu chín kỹ trước khi ăn.
Cần tránh tiếp xúc gần với những người bị nhiễm bệnh hoặc các vật dụng của bệnh nhân. Nên mang găng tay và các trang thiết bị và quần áo bảo hộ cá nhân khác khi chăm sóc người bệnh, dù ở cơ sở y tế hay tại nhà.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới

